Nước Việt Vĩ Đại

30 Tháng Mười Hai, 2006

Xin dành chuyên mục này để post lại lọai bài “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? (nguồn)” đã từng rất “nóng” trên báo Thanh Niên. Nhưng xin sửa lại chuyên mục thành “Việt Nam Vĩ Đại” vì một lý do khá đơn giản: chúng ta còn băn khoăn xem chúng ta nhỏ hay lớn thì đến lúc nào chúng ta mới “lớn” được ? Nước chúng ta đã từng mang tên “Đại Việt” kia mà. Tôi post lọat bài này tuy đã cũ và đã nhiều người đọc nhưng với một tinh thần mới: “nước Việt vĩ đại”. Đúng, phải tin là mình sẽ vĩ đại thì mới có thể vĩ đại được chứ ;) ! Nếu nước Nhật xưa kia không dám tin là một ngày nào đó họ sẽ lớn mạnh như bây giờ thì chắc chắn một điều là họ đã không được như bây giờ.

Lê Việt Hồng

——————————————————————————————-

 

LTS: Chúng tôi xin lấy đầu đề bài báo trên đây của nhà sử học Dương Trung Quốc làm diễn đàn để bạn đọc tham gia phân tích, mổ xẻ tranh luận nhằm nhận chân giá trị của dân tộc và kiến nghị các giải pháp chấn hưng dân khí, góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển của đất nước. Bài tham gia diễn đàn xin gửi về tòa soạn Báo Thanh Niên 248 Cống Quỳnh, Q.1, TP.HCM (ngoài bìa ghi: Bài tham gia diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ” hoặc địa chỉ e-mail: thanhhang@thanhniennews.com)

1. Thứ bảy tuần trước, tôi và nhiều người khác được gặp và nghe ông cựu thủ tướng danh tiếng của CHLB Đức Gerhart Schroeder tâm sự. Ông nói rằng đây là lần thứ ba ông sang Việt Nam. Hai lần trước với tư cách là người đứng đầu chính phủ, ông thực hiện sứ mệnh ngoại giao. Giờ thì ông sang với tư cách cố vấn cho một tập đoàn công nghệ truyền thông của Thụy Sĩ đã có 15 năm hoạt động tại Việt Nam. Lần này ông đến vì “tình yêu đối với Việt Nam”. Ông cho biết tình yêu ấy nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của một chính khách và từ ký ức một thời trai trẻ khi chịu tác động của sự kiện Việt Nam, biểu trưng cho một lịch sử giải phóng hào hùng và một nền văn hóa đặc sắc.

Tương tự như điều ông G.Schroeder nói, tôi cũng từng nghe một phó thị trưởng thành Venice (Italia) tự giới thiệu khi tiếp đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An: “Tôi thuộc thế hệ Việt Nam”. Cũng một lời tương tự như vậy từ một nhà lãnh đạo Quốc hội châu Âu tại Bruxelles (Bỉ)… và rất nhiều người khác, kể cả nhiều người Mỹ mà tôi đã gặp…

2. Hãy đọc lại Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi: “Xét như nước Đại Việt ta – Thật là một nước văn hiến – Bờ cõi sông núi đã chia – Phong tục Bắc Nam cũng khác – Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương – Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau – Mà hào kiệt đời nào cũng có”. Nhà bác học Lê Quý Đôn khi viết về dân tộc của mình luôn nói tới niềm tự hào “Nước Nam ta nổi tiếng là văn hiến…”, “văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc”.

Ngô Thời Nhậm đi sứ phương Bắc, lúc trở về làm bài thơ Hoản nhĩ ngâm (Mỉm cười mà ngâm ngợi) thốt lên niềm tự hào “May mắn thay ! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam… chớ bảo rằng ta kém văn minh…”. Phan Thanh Giản đi sứ Tây kinh, tàu đến một cảng biển ngoại quốc, theo thông lệ phải giương quốc kỳ của sứ đoàn, Phan bèn lấy tấm lụa rồi dùng son mà viết 2 chữ lớn là “Đại Nam” treo lên mũi tàu mà biểu trưng niềm tự hào dân tộc nơi đất khách quê người…

Những chuyện như thế trong sử sách nhiều lắm. Không có niềm tự hào ấy chúng ta không tồn tại được, và chính sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào đó.

3. Ngót trăm năm đô hộ của thực dân Pháp là một nỗi nhục lớn của dân tộc Việt Nam sau hơn một thiên niên kỷ tự chủ, hơn mười lần đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Đến thế kỷ XIX, chỉ vài trăm tên lính đánh thuê đã hạ nổi thành Hà Nội có những người anh hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu cầm quân rồi phải tự vẫn cho khỏi thẹn với núi sông. Những bài học trên ghế học trò “Tổ tiên ta là người Gô-loa” mà thực dân nhồi sọ. Thảm cảnh của những người cu li Việt phải tha phương cầu thực ở những đồn điền hải ngoại và của những trai tráng người Việt sang làm bia đỡ đạn bên trời Âu trong hai cuộc đại chiến cũng như sự khốn cùng của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến… đã dồn nén lòng tự ái dân tộc thành một sức mạnh phi thường khi có được ngọn cờ tụ nghĩa. Từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học… đến Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều thấm cái nỗi nhục mất nước để tạo nên sức vùng dậy của cả một dân tộc giành quyền làm chủ của mình.

Dân tộc ấy đã công khai tuyên bố quyền tự chủ của mình trên những nguyên lý phổ quát của nhân loại. Và dân tộc ấy đã tự chứng minh sức mạnh của mình bằng ba cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn 4 thập kỷ với biết bao nhiêu xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

4. Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn mà có người còn sánh với những chiến công của lịch sử giữ nước, mà cuối cùng chúng ta vẫn không tránh được nguy cơ tụt hậu? Ai cũng biết giữ được mức tăng GDP thuộc loại nhất nhì khu vực, đặc biệt là giữ được sự ổn định về an ninh là một cố gắng rất lớn. Nhưng mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa vời. Phải tìm cho ra những lý do của sự tụt hậu mới mong thoát được nguy cơ tụt hậu.

Đương nhiên, chiến tranh luôn được viện dẫn làm lý do hàng đầu. Chiến tranh tàn phá của cải vật chất để lại những hậu quả rất nặng nề. Chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất mát, kể cả những di chứng lâu dài cho con người… Những lý do ấy đều thấy được, cân đong đo đếm được và trên thực tế ta đã có nhiều thập kỷ khắc phục. Nhưng còn có một lý do mà không phải là khó thấy. Đó chính là nếp nghĩ và hành xử.

Vì sao đứng trước hiện tượng hàng vạn người phụ nữ phải rời quê hương đi làm dâu xứ người trong một hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo và cả nạn bạo hành trong gia đình mà không ai nghĩ đến một giải pháp để ngăn chặn ngoài nỗi bức xúc được phản ánh trên báo chí và liệu những người có trách nhiệm với đất nước có ai cảm thấy đó là nỗi nhục để tìm cách chấm dứt. Mời được càng đông người nước ngoài đầu tư vào nước ta, vay được càng nhiều tiền của thiên hạ được coi là thước đo của sự tín nhiệm của thế giới đối với Việt Nam. Nó mang lại những nguồn lực cần thiết nhưng mấy ai quan tâm đến tỷ trọng lợi nhuận rơi vào túi ai mà vẫn được tính vào một phần thành tựu GDP của đất nước và ai sẽ phải gánh vác để trang trải những món nợ đáo hạn? Và những cuộc đình công, bãi công của thợ thuyền giờ đây có còn làm nên một phần của truyền thống giai cấp hay không? Những vụ bê bối, tham nhũng bạc triệu đô la gây nên sự ồn ào trên dư luận và sự bận bịu của các cơ quan điều tra và xét xử mà chưa làm nên sự xúc động đến mức chẳng có một ai từ chức vì sự xấu hổ về trách nhiệm của mình, v.v và v.v…

Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên được trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.

Lại nhớ đến điều mà vị Đại tướng góp phần đánh thắng hai đế quốc to nhắc nhở: Có một thế hệ hàng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chí rửa sạch nỗi nhục mất nước. Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng với dự báo thời tiết chúng ta công bố thứ hạng về trình độ phát triển cùng những món tiền nợ nước ngoài để thấm được cái nỗi nhục tụt hậu, chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình…

5. Tôi đã gặp hai con người, hai nhà doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa. Một người đặt cho cái không gian tâm linh của một khu công viên văn hóa rất rộng lớn ở Bình Dương là “Đại Nam quốc tự”. Còn một người là chủ một hãng bia mang tên “Đại Việt”, cơ sở nộp ngân sách lớn nhất của tỉnh Thái Bình. Hỏi vì sao lại đặt tên như vậy, cả hai đều nhắc đến tâm thế của người xưa về niềm tự hào dân tộc, rằng chính vì niềm tự hào ấy mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ chúng ta cả một cơ đồ, một giang sơn gấm vóc. Cả hai đều chất vấn tôi bằng một câu hỏi: “Vậy thì Việt Nam có phải là một nước nhỏ hay không?”. Và cả hai đều cho rằng nếu tâm thế của ta nhỏ thì đáng là nước ta nhỏ, nếu chỉ bó mình trong những ước vọng chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như tâm thế ta lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử.

Viết bài báo này, tôi cũng muốn bạn đọc cùng chia sẻ với cái câu hỏi sâu sắc: “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?”.

Dương Trung Quốc (Tháng 3.2006)

Đ có th mnh dn nói rng nước Vit Nam không nh

Tht tình c, sáng nay va đc Báo Tui Tr vi bài viết 197 năm Vit Nam mi đui kp Singapore chưa hết bc xúc, đc tiếp bài Nước Vit Nam ta nh hay không nh ? ca nhà s hc Dương Trung Quc trên Thanh Niên, tôi thy vô cùng nôn nóng phi bày t nhng ni nim.Trước hết phi khng đnh bài viết ca Báo Tui Tr tht s gây sc vi rt nhiu đc gi, vì đã nêu mt con s quá sc tưởng tượng ca người Vit Nam ta: gn 2 thế k na Vit Nam mi đui kp nước bn, trong trường hp nước này đng yên, không phát trin gì c. Tôi ch nêu mt ý nh mà tôi đã chng kiến tn mt là trong thc tế nước Singapore chng có gì là ghê gm c. Năm 2005, tôi đã qua đt nước này, tôi thy đi sng ca người dân đây cũng không hơn gì my người dân TP.HCM gii trung lưu, nhng tin nghi cũng rt bình thường trong các ngôi nhà người Singapore… Điu này tôi s nói nhiu hơn vi Báo Tui Tr.Năm ni dung bài viết ca nhà s hc Dương Trung Quc đã nêu càng đc càng thm thía ni lòng ca tác gi cũng là ni lòng biết bao thế h người VN biết trăn tr, âu lo vì đt nước, dân tc. So vi các nước có din tích ln như Nga, Canada, M, Trung Quc,… thì nước ta quá nh vi din tích khiêm tn, nhưng dân s VN cũng có hng vi trên 80 triu người, qu là không nh tí nào, nhưng ti sao hai tiếng Vit Nam chưa được thế gii trân trng đón chào ? Phi chăng chính vì t nhng ch quan t mãn sau ngày gii phóng min Nam, hay nhng biu hin mc cm t ti khi ra trước thế gii như hin nay ? Nói như nhà thơ Thanh Tho – thái đ nào cũng đem li tai hi cho đt nước.Không th mang mc cm t ti ca nước nghèo khi đi đàm phán vi thế gii đ đòi hi s công bng trong thương mi. Dân tc Vit Nam có quá kh oai hùng, nhưng không th da vào vng hào quang này đ s dng trong quan h ngoi giao, quc tế mà cn phi có mt nn kinh tế vng mnh, mt đng tin có giá tr ln đ giao lưu. Tôi đã đi nhiu nước châu Á, châu M,…  đến nơi nào tôi cũng chú ý tìm hiu s hin din ca hàng hóa Vit Nam. các siêu th nước ngoài, nếu có các mt hàng Vit Nam thì thường mt v trí rt khiêm tn, l loi, ít được biết đến trông rt ti nghip như hàng th công m ngh, hi sn. Còn đng tin Vit Nam (VNĐ), tôi chưa thy có v trí nào trên các bng đin t ca ngân hàng, khách sn t Bc Kinh, Hng Kông cho đến New York, Toronto… Điu này nói lên v trí yếu kém ca đng tin Vit Nam ta trên h thng tin t quc tế, đó là điu mi người Vit Nam khi ra nước ngoài đu thy đau lòng, nhc nhi.Qua din đàn ca báo vi s gi ý ca nhà s hc Dương Trung Quc, vi góc đ mt đc gi, mt cán b nhà nước hưu trí, tôi gi đến nhng ý kiến thô thin t mt ni nim sâu lng, đng cm cùng tác gi và quý báo, rt mong được thy mt ngày mai tươi sáng cho nn kinh tế nước nhà vi mt đng tin có giá tr, có v trí vng mnh trên h thng tin t thế gii đ con cháu chúng ta không còn phi mang mc cm t ti mi khi xut hin trước din đàn quc tế, như vy mi thoát khi v trí nghèo nàn, lc hu, đ có th mnh dn nói rng nước Vit Nam không nh trên bn đ đa lý cũng như kinh tế trên thế gii.Nam Cường (Cuongnam47@yahoo.com.vn)

Nhìn cuc đi dưới con mt bi quan mt cách t to

Tôi đã đc c hai bài viết v tình trng ca đt nước và con người Vit Nam hin ti: bài Nước Vit Nam nh hay không nh? và bài Lòng t trng dân tc. Theo tôi, đây là hai bài báo hay nht khi đ cp v hin trng ca con người Vit Nam trong mt thi kỳ mi, mà đi đến đâu bn cũng có th nghe nhng câu phát biu hùng hn đi loi như “Thi kỳ phát trin mnh m ca nn kinh tế Vit Nam” hoc nghe mt s người dân k v cuc sng ca bn thân h mt cách chán đi.Rõ ràng đó là s trái ngược nhau trong cách nói, còn v cách nghĩ thì có th tt c h đu t v lên cho mình mà thôi. Mt người thì trên cao, ch biết phát biu. Còn mt người dưới thp thì ch biết sng theo kiu hng ngày đi làm tàn tàn ri ăn ung nhu nht mà chng màng quan tâm gì đến đt nước ngày hôm nay ra sao và ri khi say thì ngi than vi nhau “đi là b kh“, hay chán nn công vic, lương thp mà không biết t thân vn đng đi tìm cho mình nhng cơ hi mi. Nhiu người Vit Nam hôm nay luôn nhìn cuc đi dưới con mt bi quan mt cách t to như vy đó.
Tôi xin nói, Vi
t Nam s không bao gi nh nếu người Vit Nam không t xem mình là nh. Rt cám ơn Báo Thanh Niên vì đã có 2 bài báo rt ý nghĩa và hu ích. Rt mong báo luôn có được nhng bài báo hay như thế này đ góp phn vào s phát trin chung ca đt nước. Nhat Thanh (nobody2jd@yahoo.com)

Hãy hướng v mt nước Vit vĩ đi

Nước Vit ta tng là nước hùng mnh qua nhng gì lch s còn lưu li. Ngày nay, có người Vit yêu nước nào mà không xót xa và ti h khi nghe mt chuyên gia nước ngoài đánh giá rng: “Vit Nam sau hơn 40 năm phát trin na mi có th sánh bng Thái Lan”. Dù rng ta và Thái Lan có cùng xut phát đim, thm chí, công bng mà nói Thái Lan có đim xut phát sau chúng ta rt nhiu. Thế còn Singapore, Hàn Quc, Nht Bn thì sao, thêm bao nhiêu năm na?Lch s s mãi là lch s nếu hin ti vn là hin ti. Chúng ta đã và đang làm gì, đang nghĩ gì cho nước Vit hùng cường? Mt điu mà chc chn rng: Mi người Vit đu biết được phi làm gì, nghĩ gì, nhưng suy cho cùng thì ch là biết, là cm mà chưa dám dn thân. Và hơn thế na, chúng ta đang b quên th mà dân Nht, dân Hàn, dân Sing… đã xây được: Đó chính là  “dân khí và khát vng”.Nước Vit nh hay không nh chính do tm nhìn gn hay xa mà thôi. Tt c chúng ta hãy cùng thi lên ngn la khát vng trong trái tim nhng người con Vit cùng hướng v mt nước Vit vĩ đi. Lê Đình Hi Sơn (đin thoi: 0903.353.279) 

Nhỏ hay không nhỏ?

28 Tháng Mười Hai, 2006

1. Có thể thật nhỏ mà cũng thật lớn

Dân số và đất đai nước ta nhỏ hay không nhỏ? Lớn so với rất nhiều nước hiện chỉ có từ vài triệu cho đến vài chục triệu dân nhưng lại rất nhỏ so với hai nước khổng lồ ở châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Lớn có lúc thua nhỏ và nhỏ nhiều khi lại thắng lớn.Kinh tế và kỹ thuật nước ta ngày nay nhỏ hay không nhỏ? So với nhiều nước giàu mạnh trên thế giới ngày nay thì ta vẫn rất nhỏ cả về tiền vốn, về kỹ thuật, về trình độ quản lý, về kinh nghiệm thị trường… nhưng về triển vọng của ngày mai thì Việt Nam chưa hẳn đã nhỏ.Con người Việt Nam hiện nay nhỏ hay không nhỏ? Có thể nhỏ về cơ thể nhưng chưa hẳn nhỏ về tâm hồn. Đời sống xã hội có thể nhỏ về vật chất nhưng chưa hẳn đã nhỏ về tinh thần.Nhìn lại lịch sử, mảnh đất nhỏ bé này đáng lẽ từ lâu đã bị thiên tai vùi dập và ngoại xâm hủy diệt. Nhưng vì sao mà trong những thời khắc hiểm nghèo nhất, dân tộc này đã vùng dậy giống như cậu bé lên ba biến thành Phù Đổng để đánh giặc cứu nước và từ đó, nhỏ bỗng thành lớn, yếu trở nên mạnh và thất bại đã hóa thành công. Đúng như Nguyễn Trãi đã nói về đất nước của mình: Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/Nhưng hào kiệt không bao giờ thiếuĐúng như Cao Bá Quát khi đề câu đối tại Đền Thánh Gióng, đã nhân đó mà nói lên khí phách của Việt Nam: Nợ nước chưa đền, ba tuổi vẫn hiềm đã muộn/Bầu trời xông thẳng, chín tầng chưa thấy là caoNgày xưa, khi từ đông sang tây, bao nhiêu nước với đất đai mênh mông, dân cư đông đúc đã quy phục dưới vó ngựa của quân Mông Cổ thì vì sao nước Việt Nam nhỏ bé lại đã ba lần đánh tan đội quân hung dữ và chưa từng chiến bại này? Vì sao các bô lão thét vang lời thề quyết chiến tại điện Diên Hồng? Vì sao chàng thiếu niên Trần Quốc Toản bóp nát quả cam trong Hội nghị Bình Than lập tức tổ chức đội quân tuổi trẻ để lên đường ra trận? Vì sao chủ tướng Trần Hưng Đạo kiên quyết nói với nhà vua: đầu tôi còn thì xã tắc hãy còn và toàn thể binh sĩ của ông khắc chữ Sát Thát trên vai để xông lên giết giặc?Vì sao khí thế dân tộc Việt Nam lại bừng lên suốt 30 năm chống Pháp và rồi chống Mỹ? Vì sao tất cả gái, trai, già, trẻ đều một lòng chống giặc và hàng vạn bà mẹ anh hùng, hàng triệu người con liệt sĩ đã ngã xuống để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc?Vì sao được như thế? Bởi vì một dân tộc cũng như một con người sống như con cừu thì chó sói ăn thịt. Khi đã gục đầu xuống, chịu bó tay trước nhiệm vụ khó khăn và sự áp bức của quân thù thì một dân tộc cũng như một con người đã tự chôn vùi cuộc sống và danh dự của bản thân. Ngược lại, một dân tộc biết ngẩng cao đầu để kiên cường bất khuất, biết phát huy sức mạnh tinh thần của mình thì dân tộc ấy sẽ vượt qua mọi thử thách, sẽ khắc phục mọi khó khăn và đánh tan mọi kẻ thù. Chính vì thế mà nhỏ hay không nhỏ của một nước trước hết thuộc về khí phách của con người.

2. Tuổi nhỏ nhưng chí lớn

Tôi xin lỗi các bạn trẻ vì đã coi bạn là tuổi nhỏ. Nhỏ là so với tuổi 90 của tôi nhưng không nhỏ so với những người cùng tuổi trong lịch sử dân tộc ta. Trần Quốc Toản chưa đến tuổi thành niên đã cầm quân đánh giặc. Nguyễn Hiền năm 13 tuổi đã đỗ Trạng nguyên. Võ Thị Sáu, Kim Đồng và bao bạn trẻ nữa đã thể hiện chí lớn của dân tộc trong kháng chiến. Thần thoại Thánh Gióng chính là biểu tượng của thế hệ trẻ Việt Nam đời này qua đời khác. Gần đây, đông đảo bạn đọc cả trong nước và ngoài nước đã nhiệt tình tham gia vào diễn đàn mà Báo Thanh Niên khởi xướng. Nhiều bài báo đã khiến tôi xúc động trước những ý tưởng đầy tâm huyết của đông đảo độc giả, đặc biệt là những bài rực lửa của các bạn thanh niên.Các bạn đã rất sâu sắc và sáng suốt khi phân tích tình hình đất nước, nêu lên những khó khăn và thuận lợi, xác định trách nhiệm quang vinh của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ. Trước đây, Bác Hồ đã từng nói với thanh niên: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Thực hiện lời nói ấy, Bác Hồ đã cùng thế hệ cha anh hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình và trao lại cho chúng ta một Tổ quốc toàn vẹn để với công sức của chúng ta trong xây dựng, nước ta sẽ nhanh chóng trở thành giàu mạnh ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới.Đất nước được giải phóng. Hòa bình được lập lại trên toàn lãnh thổ đất nước. Vết thương chiến tranh cần được hàn gắn lại. Kinh tế cần được khôi phục. Xã hội cần được bình an. Lao động và học tập để cho mọi mặt của đất nước được phát triển.Đời sống của nhân dân còn khó khăn và thiếu thốn. Sự nghiệp đổi mới đã kịp thời mở ra một con đường mới để đất nước đi lên. Hai mươi năm đã đem lại thành tích đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng kinh tế thị trường, bước đầu thay đổi bộ mặt của đất nước.Chủ động hội nhập toàn cầu và chuẩn bị vào WTO đang mở ra một giai đoạn mới của lịch sử, giai đoạn đặt nước ta trước những thử thách lớn lao chưa từng có: thành công hay thất bại, tiến lên hay thụt lùi, thậm chí tồn tại hay diệt vong? Sự nghiệp giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến đã vô cùng khó khăn và đã thắng lợi oanh liệt. Ngày nay, bước vào giai đoạn mới, sự nghiệp đưa đất nước ra khỏi sự nghèo nàn và yếu kém lại còn khó khăn hơn rất nhiều. Vinh quang của ngày mai đang đòi hỏi toàn thể nhân dân ta phải phát huy cao nhất trí tuệ và tình cảm, ý chí và tài năng phục vụ cho đất nước.Phải nhận ra một sự thật là hòa mình trong làn sóng cuộn của toàn cầu hóa và cạnh tranh trong một môi trường vô cùng rộng lớn và phức tạp là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tổ quốc ta như một dòng sông đi ra biển cả, cần phải chắc tay lái, vững tay chèo. Nước ta giống như con cá chép đã đến cửa Vũ Môn: hoặc con cá sẽ vượt qua dòng thác để hóa thành rồng, hoặc nó sẽ bị vùi sâu trong lòng biển cả. Cũng như thế, dân tộc ta đang đứng trước hai khả năng: hoặc tụt xa lại đằng sau mà không tiến lên được, hoặc chớp lấy thời cơ này để tiến nhanh về phía trước, tạo bước ngoặt lớn nhất trên con đường tiên tiến và văn minh. Qua những bài viết trên Báo Thanh Niên, các bạn đã thể hiện được tinh thần và khí phách và nhiều lúc đã không nén được những nỗi bực mình. Tôi cho rằng những sự bực mình của các bạn cũng là chính đáng.Không bực mình sao được, khi đầy rẫy những kẻ làm giàu bất chính bằng gian lậu và tham nhũng vẫn đang nhởn nhơ và hãnh diện trước những đồng bào còn khổ cực, chưa đủ ăn, đủ mặc trong cuộc sống hằng ngày?Không bực mình sao được, khi còn có những thanh niên không lý tưởng, thiếu niềm tin đang sa vào những ham mê vật chất, vừa tạo ra những tệ nạn cho xã hội, vừa hủy hoại trí thông minh và tuổi trẻ của mình? Không bực mình sao được khi sự sa đọa về đạo đức đang phá hoại nền tảng tinh thần của xã hội, hạnh phúc chân chính của gia đình và tiền đồ của các trẻ em?Còn một sự kiện không chỉ đáng bực mình mà còn day dứt chúng ta khi người ta nói: còn 197 năm nữa nước ta mới theo kịp nước bạn Singapore. Nói như thế có khác gì bảo rằng chúng ta sẽ vĩnh viễn tụt lại đằng sau bởi con rùa làm sao đuổi kịp con thỏ. Con rùa trong ngụ ngôn đuổi kịp được con thỏ bởi con thỏ chỉ ham vui chơi, còn con rùa thì lại thường xuyên cố gắng. Ngày nay, con thỏ không những không ham chơi mà còn chạy mải miết về phía trước. Nếu như chúng ta cam chịu thân phận con rùa thì đến hạn 197 năm nữa, bạn sẽ ngoảnh lại đằng sau mà bảo chúng ta còn phải mất bao nhiêu ngàn năm nữa?Cách đây ngàn năm, con rồng Việt Nam đã bay lên trời xanh, báo hiệu cho sự ra đời của nền văn hiến Đại Việt, vừa anh hùng, vừa nhân đạo. Ngày nay, Việt Nam không phải là con rùa lẽo đẽo theo những người đi trước, con rồng Việt Nam lại một lần nữa bay cao trên bầu trời để nối tiếp ngàn năm đã qua và mở ra một thời đại quang vinh của dân tộc ở ngàn năm đang tới. Thanh niên ta với hào khí của mình không chấp nhận sự ước đoán chủ quan của bè bạn mà đầy dũng cảm nói với bạn rằng: không phải 197 năm nữa đâu mà ngay bây giờ, chúng tôi đã đủ sức đuổi kịp các anh trong vài thập kỷ.Tôi nghĩ đó là khí thế lớn lao của tuổi trẻ trên một đất nước không nhỏ mang tên gọi Việt Nam.3. Vì sự lớn mạnh của Tổ quốc chúng taQua những ý kiến của các bạn, tôi đồng tình với những hoài bão lớn lao, những ý chí mãnh liệt và những bực mình chính đáng của các bạn. Tôi nghĩ rằng sự nồng nhiệt của trái tim phải kết hợp với sự giá lạnh của khối óc. Tình cảm phải được nhận thức soi đường. Và những sự bực mình phải chuyển thành những hành động có hiệu quả. Đã đến lúc chúng ta cần đi sâu và bàn bạc với nhau về những dự kiến rộng lớn cho ngày mai và những việc cụ thể và cấp thiết của hôm nay. Tôi xin phép nêu lên ở đây một vài thiển nghĩ để cùng trao đổi với các bạn.a. Trách nhiệm Nhà nước và nhiệm vụ công dân Trong những ngày tháng chuẩn bị Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng ngàn, hàng vạn ý kiến đã được tới tấp gửi về góp phần hoàn thiện các văn kiện của Đại hội và xây dựng một đội ngũ lãnh đạo mới.Đại hội đã thành công, ban lãnh đạo mới được thành lập đã nhanh chóng có những việc làm đem lại niềm tin cho nhân dân.Nhân dân không đòi hỏi những người lãnh đạo phải tài giỏi hơn tất cả mọi người về mọi mặt. Người lãnh đạo như thế chưa từng có trong lịch sử. Những người lãnh đạo lỗi lạc ở mọi thời đại chỉ cần tài giỏi ở ba điểm sau đây:Một là, gương mẫu về đạo đức: Toàn tâm toàn ý yêu quý và lo lắng cho nhân dân, sống quang minh chính đại làm gương cho mọi người, nghiêm khắc với mọi kẻ tham nhũng mà Bác Hồ trước đây gọi là giặc nội xâm. Hai là, sử dụng hiền tài: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, câu nói của ông cha cách đây 600 năm được lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng hiền tài nếu không được sử dụng và đãi ngộ thích đáng thì sao trở thành nguyên khí? Thành công lớn của những nguyên thủ quốc gia từ xưa đến nay đều do họ tranh thủ được hiền tài và phát huy được tài năng của hiền tài.Ba là, rất nghiêm minh về mặt pháp luật: Không chỉ những Pháp gia mà cả Nho gia thời trước đều đòi hỏi người đứng đầu đất nước tuyệt đối không giải quyết mọi vấn đề theo tình cảm riêng tư, không được vin vào lý do “đạo đức” để làm sai những điều đã trở thành pháp luật. Pháp luật là điều kiện quan trọng nhất để giữ vững sự ổn định của xã hội, để chấm dứt tham nhũng, đem lại niềm tin cho nhân dân. Vai trò của pháp luật cực kỳ quan trọng nên Bác Hồ đã gọi là thần linh pháp quyền. Đến lượt mình, nhân dân với tư cách là công dân, phải thực hiện trách nhiệm và quyền lợi của mình là phát huy dân chủ, là cùng nhau suy nghĩ để có những ý kiến tích cực đóng góp cho lãnh đạo. Nhân dân chính là người góp phần xây dựng chính sách và cũng là người tích cực thực hiện chính sách. Sự thống nhất giữa Nhà nước và nhân dân là điều kiện đầu tiên để xã hội được bình yên và phát triển.b. Quan hệ giữa dân khí và dân tríCách đây một thế kỷ, cụ Phan Châu Trinh đã giương cao ngọn cờ duy tân với khẩu hiệu: chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh. Ngày xưa, những điều ấy chưa thực hiện được nhưng ngày nay, khẩu hiệu ấy lại đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Những bài trên Báo Thanh Niên đã góp phần thức tỉnh khí phách kiên cường của dân tộc, còn vấn đề dân trí lại đang nổi lên như một việc quan trọng bậc nhất. Chúng ta đang sống trong thời đại của văn minh trí tuệ. Trí thức đang đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển đi lên hay tụt hậu của các dân tộc.Trong cuộc chạy đua này, nhân dân ta có những ưu thế nhất định để vươn lên hàng đầu. Đó là đầu óc thông minh, là truyền thống hiếu học, là tư duy đầy sáng tạo. Đó là những điều kiện sẵn có để trí thức Việt Nam từ trình độ cao của nhân loại tạo nên những thành công kỳ vĩ cho đất nước ta. Nước ta còn nghèo, chưa có được những phương tiện hiện đại nhất để học tập. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phát huy điểm mạnh của ta để bù vào những khó khăn trước mắt. Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu nhưng quốc sách này nếu nhìn thẳng vào sự thật thì chưa đạt được bao nhiêu hiệu quả. Rất nhiều nhà trí thức đã góp ý kiến. Nhưng thành quả của giáo dục thì chưa có bao nhiêu mà trong học tập và thi cử còn đầy rẫy tiêu cực.Mục tiêu của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ cực kỳ thông minh của chúng ta thành những con người kiệt xuất trong sáng tạo. Phải chấm dứt tình trạng bắt trẻ em học suốt ngày, học thâu đêm, biến bộ óc của nó thành những cái thùng chứa đầy mọi thứ, không để cho nó có thời giờ nghỉ ngơi, tiếp xúc với xã hội và thường xuyên phát huy sự suy nghĩ độc lập và sáng tạo của nó.c. Cá nhân và cộng đồngTrên đất nước ta, quan hệ cá nhân và cộng đồng không chỉ là điều kiện tồn tại của xã hội mà còn là hạnh phúc của mỗi gia đình, là lẽ sống của mỗi cá nhân. Mọi cá nhân tách khỏi cộng đồng thì không thể thành công mà đối lập với cộng đồng thì sớm muộn cũng sẽ thất bại. Gần đây, người ta thường nhắc tới mối quan hệ khăng khít trong cuộc sống của con người Việt Nam là nhà, làng và nước. Nhưng nói thế vẫn chưa đầy đủ mà phải nói tới mối quan hệ của cá nhân gắn bó với quê hương, với làng xã, với Tổ quốc và còn thêm vào đó là tình yêu thương và hữu nghị với toàn thể nhân loại và sự săn sóc đến số phận của từng con người. Tình yêu thương trong 5 mối quan hệ đó phải là cốt lõi của bản sắc dân tộc Việt Nam, là đặc trưng của Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Những kẻ sống ích kỷ vì lợi ích của bản thân và gia đình mình mà làm hại đến lợi ích của cộng đồng thì sự ích kỷ ấy sẽ phá hoại nền tảng của gia đình và những đồng tiền tội lỗi họ đem về nhà chỉ là mầm mống cho những điều bất hạnh và tai họa của họ. Còn những người hằng ngày coi lợi ích của cộng đồng như lợi ích của bản thân, những người dốc tài năng trí tuệ cho sự phồn vinh của Tổ quốc và đời sống của nhân dân thì họ không chỉ là những người đáng kính trọng nhất mà còn là những người có hạnh phúc nhất. Chỉ trên cơ sở mọi người thương yêu và gắn bó với nhau trong sinh hoạt gia đình cũng như trong mọi quan hệ xã hội mới có thể giáo dục chủ nghĩa yêu nước, phát huy khí phách của dân tộc, đề cao danh dự của con người và từ đó tạo ra sự lớn mạnh của Tổ quốc Việt Nam.Giáo sư Vũ Khiêu

01:32:43, 29/06/2006

Lê Cao

Làm thế nào để một nước Việt Nam lớn, một nước Việt Nam không nhỏ là trăn trở của bất kỳ công dân nào. Bất kỳ ai trong chúng ta, những người Việt Nam yêu nước, luôn muốn một nước Việt Nam lớn nhưng không phải ai cũng từng ngày đang làm cho Tổ quốc mình lớn lên.

Những kẻ tham nhũng, những kẻ dùng hành động phi pháp để hành nghề kiếm sống, những kẻ ném mình trong giả dối vẫn hằng ngày làm cho đất nước chịu thêm những vết thương, những tổn thất lớn mà tổn thất lớn nhất là niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Một nước Việt Nam sẽ không lớn nếu mọi sự giả dối đều bị vùi lấp trong bóng tối, vùi lấp trong sự dửng dưng của tất cả chúng ta.

Trong những số báo gần đây, Báo Thanh Niên có bài viết về hành động dũng cảm vì lương tâm và trách nhiệm của giáo viên Đỗ Việt Khoa (Trường THPT Vân Tảo – Hà Tây), một hành động trong muôn vàn hành động vì sự lớn lên của đất nước. Chúng ta đã nói quá nhiều đến tiêu cực, đến sự giả dối, cái xấu nhưng vẫn là những ý kiến, lời nói chung chung. Theo tôi, những lời nói đó chưa phải là lời nói của hành động dũng cảm.

Một hành động dũng cảm đánh thẳng vào sự thật nhiều khi phải trả giá, thậm chí là cái giá rất đắt, đánh đổi cả sự nghiệp và cuộc đời mình, bởi thế, không phải ai trong chúng ta đều dám thực hiện một hành động mặc dù biết đó là chuyện chính nghĩa. Và cứ thế những hành động dũng cảm ngày một hiếm, lẻ loi, cô độc. “Đôi khi tôi cảm thấy cô độc, vì người khác không lên tiếng, chỉ có mình tôi lên tiếng” (Báo Thanh Niên ngày 22/6/2006). Lời nói đó của một người giáo viên như thầy Đỗ Việt Khoa không hẳn chỉ là tâm sự mà còn là sự trách móc những lương tâm chân chính nhưng không bao giờ hành động. Đó là lời kêu gọi trách nhiệm lên tiếng vì sự thật, vì chính nghĩa, vì sự công bằng. Thử nghĩ rằng trong một ngày ta sống có biết bao điều ngang trái xảy ra trước mắt, nhưng cũng trong một ngày đó có được bao nhiêu tiếng nói chính trực cất lên để ngăn chặn và đẩy lùi cái ác, cái xấu, cái giả dối?

Khi thầy Đỗ Việt Khoa nói: “Nói để chấm dứt những điều giả dối” (Báo Thanh Niên ngày 22/6/2006), khi đó lòng dũng cảm đã thắng, lương tâm và trách nhiệm của một công dân đã chuyển thành hành động. Hành động đó nhằm thẳng vào những con người cụ thể (Hội đồng thi tốt nghiệp Trường THPT Phú Xuyên A – Hà Tây), bởi thế hành động đó mới có tác động thực sự. Hành động đó làm Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tây và Bộ Giáo dục – Đào tạo phải vào cuộc. Qua tiếng nói tưởng chừng như nhỏ bé đó, hy vọng những người có trách nhiệm đối với nền giáo dục nước nhà không thể mãi dửng dưng với những gì đã nhức nhối từ lâu. Một hành động như thế đã có tác động tích cực và hiệu quả hơn hàng ngàn lời nói về những vấn đề tiêu cực trong nền giáo dục nước nhà từ mấy năm nay, bởi nó không bao giờ chung chung.

Khi chúng ta chấp nhận và dửng dưng với những điều giả dối thì chính chúng ta là những người tích cực che đậy và dung túng chúng, những thứ đang hằng ngày chống lại chúng ta một cách âm ỉ, lâu dài và vô cùng nguy hiểm. Khi mỗi người đều thấy có trách nhiệm phải lên tiếng để bảo vệ sự thật, chính nghĩa và công bằng thì khi ấy sự cô độc của những hành động như của thầy Khoa sẽ không còn. Có rất nhiều hành động thiết thực hằng ngày chúng ta có thể làm và làm được nếu có lòng dũng cảm và niềm tin. Tin vào những gì tốt đẹp, tin vào ý nghĩa lớn lao về lương tâm và trách nhiệm của mỗi công dân đang ngày đêm mong muốn Tổ quốc mình lớn lên.

Lê Cao (Luật K28A-ĐHKH-ĐH Huế)



Nguyễn Khắc Khoái – Hoàng Cửu Long

 

Tôi rất tâm đắc với diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?”. Trên diễn đàn, nhiều tác giả đã nói lên suy nghĩ và trăn trở của mình về một nước Việt Nam nhiều lần anh hùng trong các cuộc chiến tranh giữ nước, từ một nước không có tên trên bản đồ thế giới đến một nước thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, được cả thế giới ca ngợi.

Nhưng, tại sao trong xây dựng kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đã hơn 30 năm kể từ khi thống nhất đất nước mà VN vẫn là một nước kém phát triển? Tham nhũng, làm ăn gian dối, rút ruột công trình, kém hiểu biết pháp luật, hệ thống luật pháp yếu kém, đó là những nguyên nhân và nguy cơ khiến VN ta nhỏ. Một nguyên nhân khác là nền giáo dục của ta vẫn luẩn quẩn trong chương trình giảng dạy và sách giáo khoa chưa đạt chuẩn, khiến con trẻ mất đi tính sáng tạo, linh hoạt, giảm trí thông minh. Thầy vẫn dạy theo khuôn, trò vẫn học vẹt, ngay cả sinh viên đại học. Còn một nguyên nhân khác, đó là “Tiếng Việt, chữ Việt chưa được tôn trọng” cũng khiến cho nước VN ta nhỏ.

Khi ra đường, thấy có rất nhiều bảng hiệu mà chữ nước ngoài được viết thật to ở trên, chữ Việt viết một hàng nhỏ xíu ở dưới, thậm chí không có chữ Việt. Bảng hiệu nhiều khách sạn chỉ có chữ Tây, không hề có chữ Việt mặc dù có thể viết chữ Việt. Nhìn ra các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, bảng hiệu của họ đều ưu tiên chữ nước họ, chữ nước ngoài là phụ, dù đó là khách sạn lớn do người nước ngoài đầu tư và quản lý. Anh ở trên đất nước tôi thì anh phải dùng tên chữ nước tôi. Có những cửa hàng rõ ràng là của người Việt 100% nhưng lại có cái tên nửa Tây nửa ta, ví dụ “Nhà may TƯ’S”…

Vi-rút mang tên “thiếu trách nhiệm”

Những đứa trẻ hôm nay dường như ít biết nói những câu đại loại như “Con cảm ơn”, “Con xin phép”, “Con xin lỗi”… mang tính trách nhiệm cao, huống chi là những người lớn chúng ta lại càng không thèm hoặc thậm chí không biết nói đến. Có phải một loại vi-rút nguy hiểm mang tên “thiếu trách nhiệm” đang có xu hướng ăn sâu trong suy nghĩ, hành vi của nhiều người Việt Nam đương đại? Rất hiếm thấy một học trò khoanh tay thừa nhận trước lớp về hành vi sai trái của mình đối với giáo viên; tập thể lớp, hay một ca sĩ thừa nhận trách nhiệm của mình trước khán giả; ban tổ chức của một chương trình ca nhạc, hay một cán bộ cao cấp cho đến nhân viên bình thường trong cơ quan chính phủ, công ty, tổ chức… thừa nhận những việc làm sai. Chính vì vậy, sai trái cứ tiếp nối sai trái, thiếu sót tiếp nối thiếu sót. Đó là một trong những nguyên nhân khiến nước Việt Nam của chúng ta ngày càng nhỏ đi.

Hoàng Cửu Long (Singapore)

Trên mặt báo bây giờ cũng nhan nhản chữ Tây dù đó là những tờ báo viết cho người Việt Nam. Ngày nay, báo đã về đến nông thôn, vùng sâu vùng xa. Ấy vậy mà chữ Việt cũng chưa được các báo coi trọng. Phải chăng bây giờ báo chí cho rằng 100% người Việt Nam đều biết tiếng Tây? Trong một bài báo có mấy chữ Tây vào thì có hệ trọng gì nhưng thực tế qua các buổi đọc báo buổi sáng của phường đội hoặc UBND phường thì mới thấy có vấn đề. Người đọc khi đọc đến mấy chữ Tây đều phải ậm à ậm ờ cho qua, để đọc tiếp phần sau. Do vậy, khi họ đọc xong bài báo ít ai hiểu được trọn vẹn nên người ta lại trách sao không Việt hóa mấy cái tên Tây và cụm từ Tây để ai cũng đọc được, hiểu được.

Tôi tin rằng hiện nay có rất nhiều người Việt, kể cả những người có học như giáo viên các cấp ở vùng nông thôn, cầm tờ báo mà không đọc được suôn sẻ vì có quá nhiều chữ Tây không được Việt hóa.

Nhìn vào các tờ báo Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, đã là báo chữ Hoa thì đều viết bằng chữ Hoa (chữ Hán) dù đó là tên người, tên địa phương của các nước phương Tây, dù đó là các từ khoa học, tất cả đều được Hán hóa. Do vậy, người Trung Quốc cầm tờ báo lên đều đọc được cho dù họ không biết tiếng Tây.

Lại nói về tiếng Việt, bây giờ trên đài truyền hình và trong các buổi biểu diễn văn nghệ, người ta cũng lạm dụng tiếng Tây, nghe thật phản cảm. Câu hỏi đặt ra là tại sao có bảng chữ cái tiếng Việt mà không đọc theo tiếng Việt. Ví dụ chữ MC, sao không đọc theo tiếng Việt mà lại đọc theo tiếng Tây hay như chữ LG, IQ. Tiếng Việt đâu rồi?

Nguyễn Khắc Khoái (dịch giả)