Chống tham nhũng như thế nào?
25 Tháng Mười Hai, 2006
|
|
>> 3 biện pháp chống tham nhũng Tham nhũng đang là một vấn đề đang được quan tâm nhất của các đại biểu Quốc hội trong kỳ họp lần này và càng trở thành vấn đề nóng bỏng mà cả xã hội Việt Nam thấy nhức nhối, cần phải được gấp rút giải quyết. Các vụ tham nhũng lớn được phát hiện liên tục, từ vụ của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đến PMU 18… khiến ta phải nhìn nhận số liệu đánh giá về chỉ số minh bạch của VN trong thập niên qua từ Transparency International – một tổ chức phi chinh phủ và phi lợi nhuận rất uy tín trên thế giới – là rất thấp và đi xuống từ 2,8 (năm 1997) đến 2,6 (năm 2005), nước cao nhất là Iceland 9,7 và thấp nhất là Chad 1,7. Mục đích chính của bài viết này là đóng góp một cái nhìn toàn diện về nạn tham nhũng của VN và đề nghị vài biện pháp khắc phục theo lối nhìn hệ thống. VN cần phải diệt trừ căn bệnh trầm trọng này để sửa soạn mình cho những thử thách to lớn hơn sau khi gia nhập WTO và trở thành một nước phú cường trong những thập niên tới, để cho tất cả mọi người Việt trên thế giới hãnh diện về con người và đất nước mình. Tham nhũng ở VN cần được nhìn nhận như thế nào? Trước hết cần khẳng định: tham nhũng là những hành động vi phạm luật pháp hay quy định chung của xã hội, xảy ra khi cá nhân chiếm đoạt của công làm của riêng, hoặc nhận tiền, tài sản, dịch vụ hay ân huệ một cách không minh bạch, thiếu chính đáng. Ở VN, tham nhũng thường xảy ra trong ba hệ thống: chính quyền, kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Hai loại tham nhũng đầu có thể gọi là tham nhũng “công”, và tham nhũng thứ ba là tham nhũng “tư”. Xã hội VN thường quan tâm nhiều đến tham nhũng công vì nó có tác hại rộng lớn đến đời sống người dân. Để có thể hiểu rõ những nguyên nhân tạo nên tham nhũng ở VN và tìm được biện pháp khắc phục, cần phải chia tham nhũng công làm hai loại: tham nhũng hành chính (TNHC) và tham nhũng kinh tế (TNKT). TNHC xảy ra khi những người có thẩm quyền trong hệ thống chính quyền lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Ví dụ, một quan chức cao cấp nhận tiền để bổ nhiệm ai đó vào một vị trí cao với nhiều lợi lộc và quyền lực; viên chức chính quyền cao cấp rút ruột hàng triệu đô la từ các dự án xây dựng để đi cá độ; tài xế xe tải phải hối lộ cảnh sát giao thông để không bị quấy nhiễu; nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước phải hối lộ để tránh những đình trệ hành chính khiến công việc bị chậm trễ… Nhiều người biết đến TNHC vì nó có nhiều tác hại trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân. TNKT xảy ra khi những người có thẩm quyền trong doanh nghiệp nhà nước tham nhũng. Ví dụ, giám đốc một doanh nghiệp nhà nước duyệt một hóa đơn với giá cao hơn giá thị trường và nhận được tiền chênh lệch hay chấp nhận mua sản phẩm chất lượng kém và nhận hối lộ từ người bán hàng, hay nhân viên hãng hàng không nhận tiền hối lộ và cho phép hành khách mang hành lý quá trọng lượng cho phép lên máy bay. TNKT gây tổn thất tài chính lớn cho ngân sách quốc gia hơn TNHC nhiều. Vì không ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống của người dân nên TNKT chưa được nhìn nhận đúng mức nguy hại của nó. Người dân thường chỉ quan tâm đến loại tham nhũng này khi báo chí phanh phui vài vụ lớn. Thế nhưng, hệ thống kinh tế nhà nước – 38% của tổng sản lượng quốc gia vào năm 2004 – thua lỗ nặng vì TNKT đầy rẫy trong hệ thống này. Hậu quả là người dân phải đóng thuế để bù đắp những thua lỗ hàng năm trong khu vực kinh tế nhà nước. Trong thực tế, con số thiệt hại có thể lớn hơn nhiều vì những vụ TNKT trung và nhỏ là vô số, không thể thống kê và công bố hết trên báo chí. Việc thay đổi luật pháp, phong cách làm việc và lối tổ chức của chính quyền sẽ hạ thấp TNHC và là động cơ đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, tạo nên một xã hội lành mạnh và bền vững. Việc thay đổi cấu trúc của nền kinh tế hiện thời sẽ khắc phục được TNKT. Vậy chống tham nhũng ở VN cần những biện pháp gì? Bốn biện pháp, từ dễ đến khó mà các nước khác thường dùng và phù hợp với VN như sau: 1. Trừng phạt tham nhũng một cách nghiêm khắc: Trong thập niên qua, Trung Quốc thường xử bắn những viên chức tham nhũng lớn và đã cải thiện chỉ số minh bạch chính quyền từ 2,4 vào năm 1996, tăng lên 3,2 vào năm 2005. Chính quyền VN cũng cần phải kiên quyết trừng phạt loại tội phạm này và công bằng trong sự áp dụng pháp luật. 2. Đẩy nhanh cổ phần hóa khu vực kinh tế quốc doanh: Nhà nước cần cổ phần hóa và “giao, bán, khoán, cho thuê” khu vực kinh tế quốc doanh càng nhiều và càng sớm càng tốt. Khi khu vực kinh tế quốc doanh nhỏ đi, cơ hội cho TNKT sẽ ít đi. VN đang xúc tiến việc cổ phần hóa khu vực kinh tế quốc doanh, và cam kết hoàn tất việc này với Mỹ trong 12 năm theo hiệp ước song phương ký vào ngày 31/5/2006 mở đường cho VN vào WTO. Tuy nhiên, nên hoàn tất trong 3 đến 5 năm, vì 12 năm là quá lâu và người dân không đợi được. Thêm vào đó, Nhà nước cần tạo được một hệ thống thuế công bằng và hữu hiệu để được thêm ngân sách từ những doanh nghiệp tư nhân này. Từ đó, Nhà nước không phải bù những khoản thua lỗ lớn ở khu vực kinh tế quốc doanh bằng thuế do người dân đóng góp, đồng thời còn được thêm những phúc lợi lớn từ nguồn ngân sách dồi dào thu được từ khu vực kinh tế tư nhân. 3. Tạo một hệ thống tuyển dụng nhân sự hiệu quả và trả lương xứng đáng: Hệ thống tuyển chọn nhân sự hiện giờ chưa thể hiện tiêu chí trọng dụng người tài. Mức lương thấp, không thực tế và thường không liên quan đến tài năng hay hiệu quả công việc cũng là một nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Bởi vậy cần tạo một hệ thống tuyển dụng nhân sự minh bạch, công bằng với mọi người dân, dựa chính vào tài năng, và đồng lương phải tương ứng với hiệu quả công việc của họ. Cần sa thải những nhân sự bất tài hay dư thừa và dùng tiền lương của họ tăng lương cho người làm được việc, và có những chương trình giúp họ tìm được việc làm mới hữu ích cho xã hội. Đây là một biện pháp mạnh nhưng có hiệu quả lâu dài, và chính quyền các nước Singapore, Mỹ, Nhật… đang dùng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự hào mình là đầy tớ nhân dân. Vì vậy, nên có cơ chế hữu hiệu để người dân tham gia lựa chọn và giám sát nhân sự lãnh đạo từ trung ương đến địa phương. Khi người dân và Đảng cùng quyết tâm chống tham nhũng, quốc nạn này sẽ được diệt đến tận gốc, và toàn dân Việt Nam sẽ hãnh diện tiến lên xây dựng một đất nước dân chủ, phú cường cho cả thế giới khâm phục. GS – TS Trần Văn Hiển |
Hãy loại bỏ thói quen “tặc lưỡi”!
24 Tháng Mười Hai, 2006
Lâu nay, một ai đó khi nói đến những khó khăn trong việc tiếp cận thông tin hay đến làm việc tại các cơ quan hành chính thì thường nhận được cái “tặc lưỡi” đầy thông cảm. Có người mua được mảnh đất, căn nhà phàn nàn vì có tiền mua được rồi mà thủ tục chưa xong. Khi đến cơ quan hành chính thì họ lại được hẹn lên hẹn xuống. Khi tâm sự với người khác thì nhận được cái tặc lưỡi “thủ tục hành chính mà, nên nhờ người quen thân nếu không thì nhờ tới “cò” cho nhanh, tốn thêm mấy trăm ngàn nhưng khỏe cái thân. Có người khi gặp khó khăn trong chuyện xin cho con vào lớp 1 học bán trú thì thường nhận được lời khuyên: muốn con được nhận vào học bán trú để yên tâm đi sớm, về muộn thì phải tìm cách chạy, nếu không chắc chắn sẽ nhận được câu trả lời: Hết chỗ!? Nhiều người khi thấy mấy cô cậu đầu tóc nửa xanh nửa đỏ ngoài đường thì chua thêm mấy câu: Chỉ biết học đòi, mà không biết nâng niu các giá trị truyền thống và không quên cái tặc lưỡi: Kệ…! Có người khi nghe chuyện ông quan chức nọ bị pháp luật sờ gáy vì tội tham ô, tham nhũng thì cũng tặc lưỡi: Làm quan mà, ít nhiều thôi, ai mà chả có, không biết “lách” nên mới bị đưa ra… Thấy đứa bạn mới ra trường nhận được nơi công tác tốt, lương bổng khá cũng khiến nhiều người tặc lưỡi, tỏ ra nghi ngờ những người này là con ông này cháu ông nọ… Vậy là cái “tặc lưỡi” hằng ngày trở thành thói quen xấu. Người nói cố tình làm nhiễu thông tin để nói xấu người khác mà mình đang rắp tâm muốn đánh gục. Còn những gì họ nói ra đúng với thực tế cuộc sống, thì sẽ hình thành nên một thói quen luôn đả kích công việc của người khác, và không tin tưởng vào thể chế, chính sách, luật pháp của Nhà nước cũng như sự điều hành quản lý. Do vậy, những thông tin không ảnh hưởng hay nguy hại tới an ninh quốc gia thì phải được thông tin tới người dân một cách minh bạch mọi lúc, mọi nơi. Nếu không, sự mù mờ thông tin sẽ là một rào chắn, hạn chế quyền làm chủ của người dân. Và hậu quả là cái dân muốn làm thì không biết, cái không biết thì làm. Đến khi vi phạm thì cả xã hội cùng phải gánh chịu hậu quả. Xã hội luôn phải giải quyết những mâu thuẫn đáng ra không được phép tồn tại trong ý thức của mỗi người dân. Cần có một cơ chế thông tin được xây dựng theo từng kênh, từng bộ ngành riêng biệt, từ cấp trên cho tới cấp dưới một cách liên hoàn. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các nguồn thông tin về cơ chế chính sách luật pháp của Nhà nước. Cơ chế này sẽ đảm bảo sự công bằng cho mọi người dân về chế độ và các chính sách cũng như đảm bảo các quy trình vận hành bộ máy quản lý hành chính đạt hiệu quả cao, đưa nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển lớn mạnh. Lê Trang Tuấn Đại học không phải là nơi sản xuất “thợ” Trong gần 5 năm ở đại học, những tiết học lý thuyết, những giờ thực hành dài đằng đẵng dường như thử thách sự kiên nhẫn của sinh viên… Trong khi mọi người bàn cãi về đổi mới giáo dục đại học, thì ít người nghĩ xem sinh viên muốn gì và cần được định hướng những gì. Chúng tôi đang ngày càng bị “nông hóa” thành những “con trâu” cần mẫn, chỉ biết “cày bừa” trên đống bài tập, đồ án của các thầy cô. Xin đừng biến trường ĐH thành trung tâm sản xuất “thợ” chất lượng cao như vậy. Lê Phan Xin đừng chấp nhận “sống chung” với tệ nạn! Quan sát cách sống của người Việt mình, nhiều khi tôi không hiểu nổi tại sao nhiều người bây giờ lại dễ chấp nhận “sống chung” với tệ nạn như thế. Có những chuyện nhỏ như chuyện còi xe ngoài đường. Có thể nói, người Việt mình rất thích bấm còi xe. Đường rộng, chẳng có ai trước mặt cũng bấm; kẹt đường chẳng biết đi lối nào cũng bấm; dừng ở ngã tư đèn đỏ cũng bấm; xe tải, xe con, xe máy thi nhau bấm. Đinh tai nhức óc. Nhiều chiếc xe tải hạng nặng bấm còi hơi trong thành phố làm người đi xe máy giật mình, ngã xe và bị tai nạn. Họ coi đó là chuyện… quá bình thường và chấp nhận sống chung. Sống chung với bụi, với nước thải ô nhiễm, với chuyện văng tục ở mọi chốn. Rồi lại sống chung với thói báo cáo láo, bệnh thành tích, bằng giả, với chạy chọt danh hiệu. Từ chỗ sống chung, nhiều người trong chúng ta sẵn sàng lờ đi chuyện bê bối của đồng nghiệp, của cấp trên, cấp dưới. Với cách “sống chung” như vậy, họ đã chấp nhận việc bị tước đoạt một cách vô hình và hữu hình các quyền lợi mà lẽ ra họ được hưởng. Hải Đức |
Khuyến khích xã hội hóa: Phải có chính sách thích hợp
23 Tháng Mười Hai, 2006
Mục đích của chương trình đào tạo nhân tài cho nước Việt mà Báo Thanh Niên khởi xướng là rất cao thượng và đi cùng với xu hướng phát triển và nhu cầu bức bách hiện nay. Tuy nhiên, khi hình thành các quỹ đào tạo và muốn nghĩ đến chuyện lớn hơn, hiệu quả hơn thì chúng ta hay gặp khó khi huy động nguồn và cơ chế để sinh lợi từ nguồn quỹ huy động được. Cách đây 10 năm, cá nhân tôi đã dành ra 10 ngàn USD và một người bạn là ông Piet Steel, cựu Đại sứ Bỉ tại Việt Nam cũng dành ra 10 ngàn USD để hình thành Quỹ “Vì nông dân tương lai” giao cho Hội Khuyến học TP.HCM quản lý. Mỗi năm, quỹ sẽ dành ra một số suất học bổng trao cho các sinh viên Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM và khoa Nông nghiệp, ĐH Cần Thơ. Chỉ tiếc là quỹ này không sinh lợi vì không biết cách kinh doanh. Cái mộng của mình là một chuyện nhưng cơ chế hiện không cho phép. Vấn đề xã hội hóa suy cho cùng là nhân dân bỏ vốn đầu tư vào những chương trình công cộng. Gần đây, Chính phủ trung ương cũng như các địa phương muốn đẩy mạnh việc xã hội hóa những lãnh vực mà Nhà nước không đủ sức đầu tư, như y tế, giáo dục, cầu đường nông thôn. Bên cạnh đấy, lòng từ thiện của dân chúng cũng luôn luôn được khơi dậy mỗi khi thiên tai xảy đến các vùng lãnh thổ. Và chúng ta cũng rất quen thuộc những quyên góp, hoặc trực tiếp hoặc qua báo đài, cho các cơ sở thuộc thành phần khó khăn của xã hội như khuyết tật, mồ côi, cựu chiến binh… Nhưng kết quả đóng góp của xã hội của chúng ta hằng năm, căn cứ trên các số liệu trên báo chí và đài truyền hình, ước tính không được bao nhiêu so với nhu cầu. Rõ ràng, khả năng thực hiện xã hội hóa của cá nhân và tổ chức ở nước ta từ túi tiền nhỏ bé của mình không thể đóng góp nhiều. Và một lý do khác khiến cho sự quyên góp của xã hội chưa được nhiều mà thậm chí còn rất miễn cưỡng, vì Nhà nước của ta chỉ kêu gọi suông mà không có chính sách gì khuyến khích kèm theo. Vì vậy, tôi nghĩ rằng phong trào xã hội hóa những lãnh vực công sẽ rất khó đạt kết quả theo mong muốn của Nhà nước, nhất là xã hội hóa giáo dục. Tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài đã huy động sự đóng góp của xã hội ngày càng nhiều cho xã hội hóa giáo dục và các lãnh vực công, chúng tôi thấy nổi bật lên hai chính sách cơ bản: một là chính sách tạo điều kiện cho mọi người làm giàu chính đáng để đóng thuế nhiều hơn cho Nhà nước và hai là chính sách thuế khuyến khích sự đóng góp của mọi người dân và doanh nghiệp vào các lãnh vực công. Theo báo cáo của Tổ chức “Giving America” (Cho của Mỹ) vừa công bố ngày 19.6, năm 2005 nhân dân Mỹ đã đóng góp 260,28 tỉ USD cho các lãnh vực từ thiện, kể cả cứu trợ nạn nhân thiên tai trong và ngoài nước, so với 2004 là 245 tỉ, 2003 là 241 tỉ, 2002 là 214 tỉ, và 2001 là 212 tỉ. Báo cáo hằng năm về sự từ thiện đăng trên Tạp chí Giáo dục Mỹ ngày 23/2 cho thấy người hảo tâm Mỹ đã đóng góp 4,3 tỉ USD cho các chương trình tài trợ về y tế và giáo dục. Phần đóng góp nhiều nhất, 404 triệu USD, là từ di chúc của bà Cordelia Scaife May, lấy từ tiền thừa kế của gia đình Ngân hàng Mellon. Phần đóng góp nhiều thứ hai là của vợ chồng Bill Gates, 320 triệu USD. Ở Mỹ, người càng giàu càng đóng góp nhiều tiền hơn. Một thí dụ điển hình nhất là trường hợp của vợ chồng Bill Gates. Nhờ chính sách kinh tế thích hợp và nhờ luật pháp được Nhà nước Mỹ áp dụng nên Công ty Microsoft phát triển rất mạnh và nhanh. Phần mềm của Microsoft được Nhà nước giữ bản quyền cho Bill Gates nên ở nước Mỹ không ai dám sao chép mà phải mua bản quyền phần mềm. Vì vậy, Công ty Microsoft trở nên rất giàu, đóng rất nhiều thuế cho Nhà nước. Ông chủ Bill Gates nhờ vậy cũng rất giàu. Mà càng giàu thì phải đóng thuế thu nhập càng cao. May mắn thay luật lệ của Mỹ cho phép mọi cá nhân và doanh nghiệp được trừ phần đóng góp thiện nguyện của mình từ tổng số thuế phải nộp, do đó Bill Gates đã lập ra Tổ chức thiện nguyện Melinda & Bill Gates để nhận món tiền “trừ thuế” của mình. Những người làm luật pháp của nước Mỹ từ khi mới thành lập đã có tầm nhìn chiến lược sâu rộng về kinh tế. Họ thấy rằng Nhà nước không thể cáng đáng nổi những yêu cầu của dân chúng. Phải xã hội hóa những việc công này. Nhưng làm sao để dân chúng bỏ tiền ra giúp dân chúng? Phải cho họ tự do làm giàu và đặt luật lệ khuyến khích họ đóng góp vào việc thiện nguyện. Trong quá trình kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều được Nhà nước đối xử bình đẳng, những công ty tài giỏi sẽ giàu nhanh và những công ty kém cỏi sẽ bị đào thải; người có tài sẽ giàu lên cần đóng góp vào các việc xã hội, và người ít tài hoặc lười biếng dốt nát phải chịu nghèo khó cần được giúp đỡ. Bộ luật của Mỹ được tập hợp chính thức năm 1874 từ những luật rời rạc của Quốc hội và những nghị định Chính phủ, có 50 chương, trong đó chương dày nhất có nhiều điều khoản nhất là chương 26 nói về thuế. Các tổ chức thiện nguyện không phải đóng thuế và được phép nhận tiền đóng góp của dân chúng. Hướng phát triển này được các nhà tỉ phú hưởng ứng ngay. Ông John D.Rockefeller, vua dầu hỏa của Mỹ, là người thành lập Viện đại học Chicago và Quỹ Rockefeller, tổ chức thiện nguyện đầu tiên vào năm 1913 với số tiền quỹ cơ bản 235 triệu USD. Hiện nay, theo giáo sư Joel L.Fleishman của Đại hoc Duke, tác giả quyển sách Vai trò và tác động của các tổ chức thiện nguyện Mỹ sẽ xuất bản cuối năm 2006 tới đây, nước Mỹ có khoảng 66.000 tổ chức thiện nguyện. Trở lại vấn đề xã hội hóa các hoạt động phát triển kinh tế nước ta, chúng tôi nghĩ rằng Đảng và Nhà nước có thể phát huy tiềm năng của con người Việt Nam để tham gia không thua kém ai. Vấn đề là chúng ta cần có chính sách đúng để khơi dậy tiềm năng này. GS-TS Võ Tòng Xuân |
Trao quyền tự chủ đại học: Một bước để “lớn” hơn
22 Tháng Mười Hai, 2006
|
|
Có thể nói rằng một trong những ý kiến nhận được nhiều sự đồng thuận nhất trong giới khoa học là đẩy mạnh việc trao quyền tự chủ đại học (autonomy university) để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục đại học Việt Nam nhằm đáp ứng được yêu cầu của hiện tại cũng như trong tương lai. Cần trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường đại học, cao đẳng vì đây là một xu thế chung của thế giới trong việc phát triển giáo dục đại học và là con đường tối ưu để giải phóng nguồn lực của các ĐH ở Việt Nam hiện nay. Việc trao quyền tự chủ đại học tại nước ta trong thời gian qua có thể nói là chưa được thực hiện một cách triệt để và đầy đủ bởi hình như trong mọi việc liên quan đến đào tạo và tổ chức, các trường ĐH, CĐ đều phải xin phép Bộ Giáo dục-Đào tạo. Vậy trao quyền tự chủ cho đại học là trao những quyền gì? Có thể nói trao quyền tự chủ cho đại học có nghĩa là: - Trao cho trường ĐH quyền tuyển chọn người học và số lượng người học; thời điểm tuyển chọn và cách thức tuyển chọn phù hợp tiêu chí của từng trường. - Trường ĐH có quyền quyết định nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy để đạt được các mục tiêu, cách thức đánh giá kết quả học tập; quyết định về ngành học phù hợp với khả năng của trường. - Trường ĐH có quyền quyết định về nhân sự (tuyển chọn, bố trí) để hoàn thành mục tiêu của trường. - Trường ĐH có quyền quyết định về việc thu – chi tài chính, tức là có quyền đề ra mức học phí và các cách thức huy động tài chính cũng như chi trả lương và các khoản đầu tư khác. - Và quyền tự chủ đại học còn có nghĩa là trao cho đại học quyền “tự do về học thuật” (la liberté académique). Đây chính là yếu tố quan trọng nhất của quyền tự chủ đại học. Nếu hiểu quyền tự chủ như trên thì các trường ĐH, CĐ của chúng ta trong thời gian qua được “tự chủ” đến đâu và vì sao vấn đề này lại được nói đến nhiều trong thời gian qua? Thứ nhất, hiện nay các trường đều phải chịu sự phân phối về chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ GD-ĐT nên cho dù nguồn lực có thể tiếp nhận nhiều hơn nhưng các trường không thể tuyển vượt quá chỉ tiêu đã được ấn định. Đây là một sự lãng phí về nguồn lực. Thứ hai, hiện nay Bộ GD-ĐT buộc tất cả các ngành ở các trường đều phải dạy theo chương trình khung của Bộ. Chương trình khung này chiếm đến 70% khối lượng nội dung chương trình và các trường chỉ được “tự chủ” trong 30% khối lượng còn lại. Chủ ý của Bộ có lẽ là muốn đảm bảo chất lượng như nhau giữa các trường trong đào tạo, nhưng như vậy thì đại học của chúng ta làm sao tạo ra được các “trường phái” nghiên cứu? Ở các nước tiên tiến, tuy cùng một ngành nhưng mỗi trường đều có những “dấu ấn riêng” của mình. Chẳng hạn như cùng ngành xã hội học, nhưng các trường đại học ở phía Đông nước Mỹ đào tạo hoàn toàn khác với các trường ở phía Tây; xã hội học châu Âu cũng khác xã hội học Bắc Mỹ. Chính điều này làm cho tri thức khoa học được phong phú. Còn ở ta thì do việc “đồng phục hóa” nội dung chương trình nên gần như trường nào cũng dạy như nhau và không thấy được nét đặc thù về khoa học của từng trường. Bên cạnh đó, các trường cũng phải xin phép Bộ để mở các ngành học mới trong khi đúng ra chính bản thân các trường hiểu rõ mình có khả năng đào tạo cái gì. Thứ ba, hiện nay các trường ĐH, CĐ ở ta được trao quyền tương đối rộng rãi nên các trường cũng ít kêu ca về việc này. Về việc tự chủ tài chính, hiện chỉ có một yếu tố được thực hiện ở nước ta, đó là các đại học sẽ ngày càng nhận được ít hơn tiền hỗ trợ từ Nhà nước. Còn lại việc quyết định mức thu học phí vẫn do Bộ quy định trong khi lẽ ra Bộ nên để cho các trường tự quyết định về mức thu của mình. Trường nào dạy tốt, chất lượng được xã hội chấp nhận thì trường đó hoàn toàn có quyền thu học phí tương ứng; trường nào dạy kém mà nếu thu học phí cao thì cũng chẳng có mấy ai chọn học. Cuối cùng, vấn đề “tự do học thuật” hình như là điều còn khá xa lạ ở nước ta dù đã được UNESCO xem như là một trong những nền tảng chính cho sự vận hành của đại học ngay từ năm 1950. Tự do học thuật có nghĩa là mọi thành viên trong trường đại học (giáo sư, sinh viên) đều có quyền tự do bày tỏ chính kiến của mình, tự do đưa ra các kết luận rút ra từ việc nghiên cứu của mình đối với những vấn đề dù là nhạy cảm nhất, bởi một trong những sứ mạng của đại học là phải luôn tạo ra được những tri thức mới, những phương pháp tư duy mới, những nhận thức mới về con người, xã hội và thế giới tự nhiên. Có thể nói đây là một trong những thành tố cao cấp nhất của quyền tự chủ đại học mà nếu thiếu nó, chúng ta đừng mong có những đóng góp mới cho nền khoa học của nhân loại mà chỉ mãi mãi “nhập tài liệu tiên tiến của nước ngoài” để giảng dạy mà thôi. Ở nước ta, các ngành khoa học tự nhiên có được quyền này rộng rãi hơn các ngành khoa học xã hội nên khoảng cách “lạc hậu” của những ngành này so với thế giới không lớn như khoảng cách của các ngành khoa học xã hội. Nếu ngay cả tờ giấy thi mà các trường ĐH cũng phải mua từ Bộ thì nói đến quyền tự chủ cho đại học chỉ là nói suông mà thôi, và như thế mong muốn có được đại học đẳng cấp quốc tế sẽ mãi chỉ là một ước mơ. L.M.T |
Thiếu sách lược về nhân tài, chúng ta có nguy cơ trở thành dân tộc làm thuê
21 Tháng Mười Hai, 2006
|
|
| Cái gọi là thời cơ vàng của dân tộc, là vận khí quốc gia… nhất nhất đều phải dựa vào nội lực, mà nội lực phải được vận động nhờ nguồn lực nhân tài! Vì sao vậy? Thứ nhất, dựa vào thu hút chất xám bên ngoài là điều không tưởng. Chất xám thực tế chỉ chảy theo chiều từ khu vực kinh tế kém phát triển sang khu vực kinh tế phát triển hơn là do vậy. Người có thể đứng ra đãi sĩ rồi chiêu hiền, quyết không phải kẻ tầm thường mà làm được.
Thứ hai, dựa vào thành tựu chất xám bên ngoài – tức chờ cho thế giới phát triển về khoa học-công nghệ, sau đó hy vọng ta du nhập vào rồi tự khắc cũng có công nghệ mới, thì có thể dẫn đến hậu quả nguy hiểm không kém: nó dần biến chúng ta trở thành một dân tộc làm thuê, và về khoa học-công nghệ dĩ nhiên sẽ luôn đi sau thiên hạ. 1. Nhân tài từ đâu và do đâu? Mỗi người bình thường sinh ra đều khá bình đẳng về trí tuệ. Mỗi đứa trẻ đều có vài ba năng khiếu bẩm sinh nổi bật, nhưng ít khi nhận thấy rõ ràng. Sang giai đoạn tuổi mẫu giáo và thiếu nhi, thường chỉ còn lại một vài năng khiếu được lưu lại, hoặc ở dạng ẩn, hoặc lộ ra căn bản cho đến khi trưởng thành. Những năng khiếu đó là giai đoạn phôi thai của tài năng sau này. Chúng được nuôi dưỡng nhờ những phương pháp tư duy (logic) hợp lý, và chúng phát triển nhờ tính logic của môi trường giáo dục. Xét về bản chất, năng khiếu chia ra hai lĩnh vực chính: năng khiếu về khoa học tự nhiên, và năng khiếu về khoa học xã hội. Trong giai đoạn năng khiếu hình thành và phát triển ở tuổi vị thành niên và cả sau này, có các yếu tố chính tác động gồm: môi trường tâm lý-gia đình; môi trường giáo dục (phổ thông-chuyên ngành); và môi trường xã hội-hoạt động (môi trường phát triển). Ở tuổi thanh niên, thay cho yếu tố giáo dục phổ thông sẽ là giáo dục chuyên ngành (dạy nghề, cao đẳng hay đại học…). Giai đoạn này diễn ra sự chuyển đổi từ năng khiếu thành tài năng.
Từ cuối giai đoạn hình thành năng khiếu và định hình tài năng, tư duy cá nhân bắt đầu sử dụng đến sự tổng hợp và phân tích trong hoạt động để cho kết quả là những cái mới – phát minh. Sự phát triển nhận thức này tuân theo những quy luật của triết học, có sử dụng tư duy logic ở mức cao, được thúc đẩy nhờ môi trường phát triển. Đấy là những người có tài năng. Khi tham gia vào môi trường lao động của xã hội tức môi trường phát triển, những tài năng sẽ được hoàn thiện và thay đổi để thích ứng, và chỉ khi có cống hiến có ích thì tài năng mới có thể gọi là nhân tài. Với giai đoạn này, các yếu tố nêu trên vẫn giữ nguyên bản chất, chỉ có phần giáo dục là phụ thuộc chính vào ý chí và đam mê của cá nhân, bao hàm nội dung tự giáo dục và tái giáo dục, đơm hoa kết trái trong môi trường phát triển phù hợp. Nếu người có tài năng lại có cái tâm và chọn mục đích mang kết quả lao động của mình ra để phụng sự cho xã hội, cho tiến bộ khoa học, thì người đó có đủ tiền đề để trở thành nhân tài. Khi những đóng góp chưa có điều kiện thực hiện, họ vẫn chỉ là người có tài năng, còn nếu những đóng góp chứng tỏ giá trị, họ sẽ được công nhận là nhân tài. Vậy thì, những tài năng và nhân tài đều có thể có trong mọi thời kỳ, và tập trung theo ba lĩnh vực khái niệm gồm: - nhân tài – lãnh đạo (tham gia điều hành một tập thể với các chức vị lãnh đạo…) - nhân tài – trí thức (cá nhân theo đuổi chuyên môn tự nhiên và xã hội: bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ…) - nhân tài trong lao động- sản xuất (công nhân, nông dân, thợ thủ công…) Nguyên khí quốc gia phải dựa vào cả ba nguồn nhân tài trên, trong đó nhân tài-lãnh đạo đóng vai trò quyết định nhất đến sự thịnh suy của nguyên khí này. Người xưa thường nói: Ba quân dễ kiếm, một tướng (giỏi) khó tìm là đề cao vai trò người đứng đầu trong công việc cụ thể. Thế nhưng, hiện nay ở nhiều nơi lại diễn ra tình cảnh ngược lại là: Trăm quan dễ kiếm, một thợ (giỏi) khó tìm. Tức là, người sẵn sàng làm quan thì nhiều, còn người có thể làm thợ, làm lính giỏi thì hiếm. Đôi khi, nếu có được một số người thợ hay trí thức có tài năng thì họ luôn sẵn sàng ra đi nơi khác để có được thu nhập hoặc sự tôn trọng thực chất hơn. Tôi xin nhấn mạnh riêng vào khía cạnh nhân tài – lãnh đạo vốn có vai trò quyết định trong vấn đề sách lược về nhân tài vì hai lẽ: Thứ nhất, chính những người tài mới có thể nhận biết, tôn trọng và sử dụng được người tài một cách đúng nhất. Thứ hai, chỉ những người lãnh đạo tài năng mới có thể đưa ra và thực hiện được những quyết sách phù hợp về nhân tài (phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tài năng…) một cách đồng bộ. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy có nhiều nơi người lãnh đạo chỉ nhờ có cái tài khéo léo và nhân thân chính trị mà trở thành người đứng đầu đơn vị hay ngành nghề. Mối quan tâm thường trực của họ là có bậc lương cao nhất, đãi ngộ đầy đủ nhất, yên vị và thăng tiến được tốt nhất… Họ có tâm lý coi người giỏi nhất chính là người có địa vị cao nhất. Sự nguy hiểm trong cách dùng người của những lãnh đạo này là: đã tin dùng ai thì sử dụng cả mặt hay cũng như dở của người đó, còn người không thuộc diện tin dùng thì dù có tài năng mấy cũng chỉ đến mức vắt chanh bỏ vỏ mà thôi. Hiện tượng chảy máu chất xám bên trong hay bên ngoài cũng chủ yếu do nguyên nhân này. Điều quan trọng là, nếu người lãnh đạo là người có tài và có tâm thực sự, thì họ sẽ có rất ít tính vị quyền, đố kỵ mà thay vào đó là cách xử sự-tác phong điều hành khoa học, hiểu biết và công bằng hơn. Tài năng lãnh đạo là thứ tài năng khó có được nhất, vì là tổng hợp của những cái tài cần thiết về cả mặt khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên. Đặc biệt là khi cần còn đòi hỏi có sự hy sinh cá nhân về thu nhập-vật chất. Trong một nền kinh tế lành mạnh thực sự, vị trí lãnh đạo trong chính quyền thường mang lại nguồn lợi vật chất kém hơn trong lĩnh vực kinh doanh tư nhân, và vì thế đòi hỏi người lãnh đạo phải vừa có tài năng, vừa có cái tâm với quốc gia. Đổi lại, họ sẽ có được sự suy tôn của lịch sử. Người ta chỉ có thể phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, sau đó nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho tài năng phát triển, từ đó sẽ có nhân tài xuất hiện. Có chăm cây thì mới có ngày hái quả, thế nhưng không nên hiểu phiến diện là có thể đào tạo nhân tài vì về bản chất, nhân tài xuất hiện khi và chỉ khi có các điều kiện (tâm lý-giáo dục-môi trường) phù hợp mà thôi. Chúng ta đã có hàng chục ngàn kỹ sư học ở nước ngoài về mọi chuyên ngành có thể có trên thế giới này, kể cả về nguyên tử và vũ trụ, nhưng nguồn tài năng này đã và đang được sử dụng ra sao? Thậm chí, hiện nay có nơi còn giống như bị bỏ rơi (loạt bài gần đây về lời kêu cứu của những du học sinh trên Báo Thanh Niên). Chúng ta đã có chương trình đào tạo hàng trăm thạc sĩ-tiến sĩ hiện đại, hy vọng từ đó sẽ có nhân tài xuất hiện, nhưng kết quả đầu tiên thì đã rõ: ai đã và sẽ sử dụng họ? Chúng ta đề ra chính sách trọng dụng chất xám người Việt ở nước ngoài, nhưng thực tế mới chỉ có được chút vốn đầu tư, còn sử dụng – tôn trọng chất xám của họ như thế nào và ra sao thì vẫn là vấn đề bỏ ngỏ! Nếu có sách lược phù hợp cho năng khiếu – tài năng hình thành và phát triển, có các điều kiện tốt của môi trường hoạt động, thì không lo về việc khi nào, ở đâu sẽ có nhân tài xuất hiện. Nhưng điều kiện đầu tiên và chắc chắn phải có, đó là cần lắm những tài năng-nhân tài lãnh đạo trước đã! Một xu thế xưa nay vốn luôn làm mòn mỏi những tài năng đích thực, đó là cất nhắc những người có mặt chuyên môn giỏi (và cả không giỏi mặt nào) lên đảm nhận các chức vị lãnh đạo, vốn đòi hỏi một dạng tài năng lãnh đạo khác về bản chất so với các tài năng chuyên môn mà họ có. Nguyên nhân thứ nữa là cái cơ chế-chính sách chung chung luôn được mang ra để giải thích cho mọi thất bại cũng như tội lỗi, giấu giếm đến cùng trách nhiệm cá nhân, và chủ nghĩa lý lịch nhiều khi được sử dụng như một thứ vũ khí: khi là thanh kiếm, lúc là lá chắn cho mục đích cá nhân. Chức vị có thể trở thành mục tiêu phấn đấu của một số người ít tài năng mà thừa tham vọng, mà chính họ luôn coi đó là thước đo của thành đạt và tài năng ! Thực hiện Sách lược về nhân tài để khơi dậy nguyên khí quốc gia, tôi cho rằng hiện nay, đó là nhiệm vụ cấp bách nhất của dân tộc Việt! (còn tiếp) L.H.A (TP.HCM) |



