Nếu tôi là thủ tướng.
28 Tháng Tư, 2007
Nếu tôi là thủ tướng.
Việc đầu tiên tôi sẽ làm ngay tức khắc đó là cải cách giáo dục một cách trịêt để và hết sức mạnh mẽ. Giáo dục là xương sống của dân tộc, là cái nôi sinh ra những con người, quyết định sự hưng thịnh của một đất nước. Tôi sẽ đi đến từng điểm nhỏ.
- Giáo dục phổ thông:
Với quan điểm của một người học sinh – sinh viên, chương trình hiện nay là quá nặng nề. Đối với hầu hết các sinh viên, chương trình cấp ba quả đúng là ác mộng. Tôi đang đứng trên phương diện một học sinh-sinh viên khá giỏi chứ không phải là trung bình để viết những điều này.
+ Thứ nhất, chương trình học quá nặng về thi cử. Nội dung và phương thức thi cử quyết định, chứ không phải là kiến thức quyết định cách thức và nội dung học của học sinh. Từ trước đến nay, mọi người thường chỉ nói là hãy cố gắng học tốt để mà thi tốt nghiệp và đại học… chứ không ai nói là “con ráng học Tích Phân và Đạo hàm để về nhà tính toán hàng hóa dùm mẹ” cả
. Mục đích của việc học những kiến thức đó là để thi đại học và có kiến thức để học đại học. Tiếc là chưa đến 20% học sinh không vào được đại học. Bây giờ, nếu bạn gặp một học sinh cấp 3 và hỏi, “em học tính chất hòa học của kali để làm gì?”, gần như chắc chắn là học sinh đó không biết câu trả lời mặc dù biết rõ tính chất hóa học của Kali.
+ Thứ hai, chương trình học tạo tính ì cho suy nghĩ của học sinh. Nó tạo ra những giá trị tuyệt đối bất di bất dịch và không những không phát triển mà còn kìm hãm tư duy độc lập của học sinh. Enstein, nhà bác học vĩ đại nhất, đã nói: “trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức”. Còn chúng ta thì đang nhồi nhét vô đầu học sinh kiến thức, biến học sinh thành những cái máy hơn là những con người. Hãy xem các công ty hàng đầu như Microsoft, Google… họ tìm kiếm những con người biết suy nghĩ đột phá và nghi ngờ mọi giá trị…
+ Thứ ba, những giá trị đạo đức và nhân văn đang bị lãng quên. Đến ngôi trường nào, người ta cũng thấy câu “tiên học lễ, hậu học văn”. Thế nhưng, trong hơn mười môn học, chỉ có khỏang 2 -3 môn có thể xem dạy làm người, đó là văn học, lịch sử, giáo dục công dân. Trong đó, giáo dục công dân rất nhiều trường chỉ dạy chiếu lệ, thậm chí còn bỏ tiết dạy dồn để dành thời gian cho những môn khác. Lịch sử thì từ một môn thú vị bị biến thành một cơn ác mộng đối với học sinh bằng những bài học thuộc lòng dài dằng dặc. Còn văn học? không hiểu một lý do gì mà càng ngày càng nhiều học sinh không còn hứng thú với môn học này nữa, thậm chí nhiều sinh viên còn xem vịêc đọc và viết là một cực hình. Các kỳ thi tuyển sinh thì cũng nhằm mục đích tìm những cái máy biết tính tóan và suy luận, xem xem “cái máy” nào nhanh, mạnh, có dung lượng lớn chứ không phải là tìm những con người thật sự.
+ Thứ tư, hệ thống giáo dục đang tạo ra một thế tệ tương lai yếu đuối, thua kém về cả sức khỏe và vóc dáng so với thế giới, lại bị thêm căn bệnh học trò như về mắt và cột sống v.v.… Chúng ta đang tạo ra một thế hệ “què quặt”, phát triển không toàn diện và đồng đều. Thử hỏi nếu như không có sức khỏe của một người lính, thì một người như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không thể chỉ trong vài ngày có thể đi hết nước này đến nước khác phát biểu và nói chuyện với các vị lãnh đạo, nguyên thủ quốc gia… Thậm chí vị thủ tướng Úc năm, sáu chục tuổi qua Việt Nam chạy tập thể dục buổi sáng mà cánh nhà báo toàn là thanh niên theo muốn hụt hơi. Thật đáng hổ thẹn.
+ Cuối cùng, chương trình học quá lý thuyết và giáo điều, nặng nề, và thừa thãi. Cái này đã được bàn cãi và mổ xẻ nhiều lần, không cần nói thêm gì nữa. Ở đại học, trước mỗi khóa học, sinh viên thường được biết môn mình đang học nói về cái gì, có ích lợi gì. Còn ở phổ thông, năm này qua năm khác, không thay đổi. Nhàm chán và nhiều học sinh thậm chí không bíêt mình học những cái đó để làm gì cả.
Vậy nếu tôi là Thủ Tướng, tôi sẽ làm gì để thay đổi?
Vì hệ thống giáo dục phụ thuộc quá nhiều vào thì cử, tôi sẽ bắt đầu quyết liệt từ vấn đề này.
+ Thứ nhất, bỏ hòan tòan kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Một học sinh đã đủ điều kiện học phổ thông và vượt qua không biết bao nhiêu kỳ thi trong suốt 3 năm học thì không có một lý do gì để phải thi thêm một kỳ thi để quyết định tất cả 3 năm học đó cả. Một kỳ thi như thế chỉ kiểm tra được khả năng “cày” của học sinh mà thôi. Nếu chúng ta phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng để tổ chức một kỳ thi chả có ý nghĩ gì như thế thì chúng ta hãy dùng số tiền đó để xây thêm trường, tăng thêm lương cho giáo viên, cung cấp học bổng cho sinh viên …
+ Thứ hai, bỏ kỳ thi đại học tập trung và chia theo khối như hiện tại. Thay vào đó, sẽ có một kỳ thi tổ chức rãi rác quanh năm do cục khảo thí đảm nhiệm tổ chức và có 2 môn chính đó là Tóan Học và Ngôn Ngữ (cần có sự phân biệt giữa Ngôn Ngữ – khả năng truyền đạt và lĩnh hội tri thức – và Văn Học). Hai môn này dùng để kiểm tra năng lực trí tuệ của học sinh, và là yêu cầu tối thiểu của một sinh viên bất cứ ngành nào, biết suy luận và biết diễn đạt. Bên cạnh 2 môn đó sẽ có thêm những bài thi kiếm tra kiến thức đã học trong trường phổ thông các môn toán, lý, hóa, văn học, sử, địa v.v…. tùy theo yêu cầu của từng ngành từng trường mà học sinh muốn theo học. Các môn thi này không dòi hỏi chương trình kiến thức lớp 12, tức là học sinh lớp 11 là cũng có thể thi. Như thế thời gian sẽ rộng rãi và không gây sức ép cho học sinh. Suy cho cùng những kỳ thì và những con số chỉ nói lên 1 khía cạnh của trí não của một con người.
+ Thứ ba, Mỗi trường đại học phải có một ban tuyển sinh riêng và tuyển sinh gần như quanh năm. Để tuyển sinh không dựa hòan toàn vào một số liệu nào cả. Tức là phải dựa vào cả học bạ, điểm của kỳ thi được nói ở trên để kiếm chứng học bạ đó, các thành tích đã đạt được, các họat động ngọai khóa v.v… Có một sự khác bịêt rõ rệt về điểm số giữa học sinh chỉ biết ngồi nhà học như một cái máy và một học sinh tham gia tất cả các hoạt động ngọai khóa, cũng như có sự chênh lệch điểm số giữa những học sinh “gà chọi” ở thành phố và những học sinh bình thường ở nông thôn….
Chúng ta tìm kiếm những con người để đào tạo chứ không phải là những cái máy. Xin nhắc một điều là rất rất nhiều vĩ nhân và nhà bác học vĩ đại như Darwin, Enstein, Edison,… chỉ là những học sinh cực kỳ bình thường. Vì vậy không nên vì những điểm số mà lọai bỏ những con người ưu tú. Vậy thì làm sao để nhận biết ra họ? câu trả lời đó là những trường tốp trên như các đại học quốc gia, ngọai thương, y dược v.v… cần phải yêu cầu học sinh gửi thêm 1 vài bài luận về những chủ để nhất định như là “Trả nghiệm nào trong cuộc sống gây sự ảnh hưởng và thay đổi đến cuộc đời bạn”, “Ước mơ của bạn là gì?” … Thử nghĩ xem, giữa một học sinh giỏi nhưng không có hoài bão ước mơ và một học sinh khá đầy nhiệt huyết và quyết tâm, có hòai bão, người ta sẽ chọn ai?
Các bài thi phải được trắc nghiệm hóa phần lý thuyết, một phần vì lý do kiến thức phổ thông chỉ là những kiến thức cơ bản, không cần đòi hỏi suy luận sâu, vậy nên nếu chỉ dùng hình thức tự luận thì rất bất cập. Với sự thay đổi về cách thức kiểm tra và thi cử như thế, chắc chắc cách học của học sinh sẽ phải thay đổi.
Tiếp theo về chương trình học, tôi sẽ lược bỏ hầu hết những phần học mà đối với một học sinh bình thường nếu học xong cũng không biết để làm gì.
+ Cụ thể, bộ môn tóan, lý, hóa sẽ bỏ hết những phần học quá nhiều và không ứng dụng vào thực tế, bù lại, những kiến thức đó học sinh có thể học ở trường đại học chuyên ngành. Cụ thể ví dụ như môn tóan, sẽ bỏ bớt những phần thuộc toán giải tích và hình học giải tích, thay vào đó, những phần còn lại sẽ được dạy thông thoáng thời gian hơn, liên hệ thực tế v.v… nhiều hơn. Về vật lý và hóa học, thay vì nhồi nhét lượng kiến thức như hiện tại, sẽ chuyển sang 1 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập và thực hành, kiến thức sẽ được giảm bớt, thay vào đó là thực hành, và điểm thực hành phải có trọng lượng ngang như điểm lý thuyết.
+ Những môn như lịch sử, địa lý, sẽ tránh hòan toàn tình trạng đọc chép hiện nay, thay vào đó, học sinh nên được giáo viên hướng dẫn cách ghi chép bài vở cho logic. Các câu hỏi phải hỏi ít hơn về đòi hỏi trí nhớ mà phải đòi học sinh suy luận, suy nghĩ về những cái đã học. Tức là không nên trắc nghịêm hóa hòan toàn mà là tỉ lệ khoảng 60-40: 60 trắc nghiệm lý thuyết, 40 tự luận. Học sinh phải học cách tự viết ra suy nghĩ, bày tỏ quan điểm của mình thay vì học thuộc lòng và chép lại máy móc chữ nghĩa của người khác. Về Văn học – tiếng Việt, sẽ giảm số thời lượng học các tác phẩm văn học lại, mà thay vào đó, các tiết làm văn – ngôn ngữ sẽ được nâng lên. Không ít học sinh tốt nghiệp phổ thông nhưng không thể diễn đạt bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết một cách rõ ràng và rành mạch. Học sinh sẽ không được thụ động mà phải tập tự học và diễn đạt lại cho người khác. Các bài thuyết trình và làm việc nhóm phải là bắt buộc và tính điểm 10-20% trong hầu hết các môn học.
+ Môn giáo dục thể chất phải được tăng thêm thời lượng và phải dựa trên sở thích của học sinh. Không có một lý do gì một học sinh thích chơi bóng rổ lại cứ phải học điền kinh năm này qua năm khác. Học sinh phải lựa chọn môn giáo dục sở thích yêu thích của mình và được phân lớp học theo sở thích. Nhà trường phải tạo điều kiện cho việc phát triển thể chất tương xứng với giáo dục về văn hóa.
+ Các họat động ngoại khóa phải được mở rộng, học sinh được khuyến khích thành lập các câu lạc bộ riêng. Những họat động ngọai khóa phải được ghi lại trong học bạ như một phần quan trọng để xét tuyến sau này. Nhà trường phải tổ chức các họat động ngọai khóa một cách mạnh mẽ, phải có những buổi nói chuyện tiếp xúc giữa những người đã thành công trong xã hội với học sinh v.v… Phải xác định rõ một điều là nhà trường là nơi để đào tạo nhân cách và tri thức, là nơi sản sinh ra những con người hoài bão, yêu nước…. Bác Hồ đã nói “có tài mà không có đức cũng chỉ là kẻ vô dụng”. Một con người tốt là một con người được phát triển và giáo dục toàn diện.
+ Tùy mỗi trường, có thể tố chức các lớp nâng cao cho các môn học dành riêng cho các học sinh yêu thích và có năng lực. Điều đó không có nghĩa là cánh cửa đại học đã được dành sẵn cho những học sinh này. Mà ngược lại, ai chứng tỏ được trong 3 năm học phổ mình tận dụng thời gian của mình một cách hiệu quả, chứng tỏ được sự trưởng thành mới chính là những học sinh được nhận vào đại học.
2. Giáo dục đại học:
Tôi sẽ không tiếp tục nói về những nhược điểm của GD đại học Vịêt Nam. Mà sẽ đi thẳng vào 2 vấn đề:
+ Muốn đào tạo tốt thì phải có tiền, vậy kiếm đâu ra tiền?
+ Có tiền, nhưng làm sao để đào tạo tốt.
- Tiền:
+ Nếu các trường đại học đến chừng nào còn không tự chủ được về tài chính, thì lúc đó các trường sẽ luôn thiếu tiền. Cần phải để các trường đại học tự chủ hóa mạnh mẽ.
+ Tạo điều kiện cho các trường tư thục phát triển. Một thực tế, những trường hàng đầu trên thế giới rất nhiều là trường tư. Trường tư không có nghĩa là học sinh nghèo không thể theo học, mà trường tư chính họ sẽ tự vận động có những chính sách hỗ trợ và kêu gọi sinh viên giỏi theo học. Trong một buổi seminar của GS John Vũ, kỹ sư trưởng tập đòan Boeing, mà tôi được tham dự tại trường, có 1 vị là tổng giám đốc của công ty TMA – một công ty out sourcing phần mềm lớn trong nước và khu vực – đề nghị GS John Vũ giúp đỡ vì theo như ông ta nói, công ty ông ta muốn thành lập 1 trường đại học Công Nghệ Thông Tin nhưng mà nộp đơn xin giấy phép cả năm trời vẫn chưa được xử lý. Trung Quốc trong hơn 1 trăm năm, từ không có một đại học nào hiện nay có tới hơn 1300 đại học, thậm chí trong đó có những đại học hàng đầu thế giới. Còn chúng ta đang đứng ở đâu? Dưới đáy của thế giới. Hệ thống quản lý của nhà nước hiện nay không đủ mạnh để mở rộng và quản lý các trường đại học một cách hiệu quả, vì vậy cần phải có chính sách cụ thể ưu đãi các trường tư thục phát triển.
+ Ở Hoa Kỳ, đặc biệt các trường tư có một nguồn tài trợ rất lớn từ các quĩ của những doanh nhân thành đạt xuất thân từ các trường đó. Chúng ta thì không. Vì sao? Các trường đại học chưa tự chủ tài chính, chính sách hỗ trợ về thuế đối với những đóng góp vậy chưa có. Và một lý do quan trọng đó là có vẻ chưa có trường đại học nào có ý định làm như thế. Thiết nghĩ, những trường đại học lớn như đại học Bách Khoa, Y dược, họ chỉ cần tổ chức kêu gọi quyên góp để xây dựng trường chắc chắc sẽ thu về một khỏan tiền vô cùng lớn. Ví dụ, nếu một doanh nhân nào đó, ông Trương Gia Bình – người có số tài sản chỉ tính cổ phiếu thôi cũng lên tới hàng ngàn tỉ đồng – chẳng hạn, chắc chắn ông ta không ngại bỏ ra vài chục tỉ để xây 1 tòa nhà trong trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mà sau này sẽ mang tên ông ta mãi mãi… thêm vào đó công ty ông ta sẽ được có những ưu đãi trong vịêc tuyển chọn sinh viên làm việc chẳng hạn.
+ Chi phí để mỗi trường đào tạo sinh viên ở đâu ra? Từ nhà nước, chính là từ thuế, hay nói cách khác chính là từ nhân dân. Nhưng sinh viên tốt nghiệp xong đi làm cho các doanh nghiệp, hay nói cách khác các doanh nghiệp hưởng toàn bộ thành quả nhưng không mất gì cả. Rõ ràng điều đó thực sự rất bất cập và vô lý. Để thay đổi, chúng ta cần ban hành luật bắt buộc các doanh nghiệp phải đóng góp lại cho trường đại học những khoản tiền đào tạo tính trên mỗi sinh viên tốt nghiệp mà doanh nghiệp đó tuyển dụng. Khỏan đóng góp đó phụ thuộc và yêu cầu của từng trường đại học và có thể đóng góp bằng nhiều cách: tiền mặt, đóng góp trong quá trình đào tạo sinh viên như trang thiết bị, tạo điều kiện cho sinh viên thực tập v.v… Thậm chí có thể rõ ràng hơn bằng cách phân rõ ràng ra dựa trên năng lực của mỗi sinh viên, sinh viên càng giỏi thì doanh nghiệp cần phải trả lại 1 phần chi phí đào tạo nhiều hơn chẳng hạn… Khi nó đã trở thành luật pháp thì ai vi phạm nó đều có thể bị xử lý theo pháp luật, còn nếu nó chỉ là những qui định lỏng lẽo thì sẽ có nhiều ngõ ngách lách luật.
(to be continued being edited)