Nếu tôi là thủ tướng.
28 Tháng Tư, 2007
Nếu tôi là thủ tướng.
Việc đầu tiên tôi sẽ làm ngay tức khắc đó là cải cách giáo dục một cách trịêt để và hết sức mạnh mẽ. Giáo dục là xương sống của dân tộc, là cái nôi sinh ra những con người, quyết định sự hưng thịnh của một đất nước. Tôi sẽ đi đến từng điểm nhỏ.
- Giáo dục phổ thông:
Với quan điểm của một người học sinh – sinh viên, chương trình hiện nay là quá nặng nề. Đối với hầu hết các sinh viên, chương trình cấp ba quả đúng là ác mộng. Tôi đang đứng trên phương diện một học sinh-sinh viên khá giỏi chứ không phải là trung bình để viết những điều này.
+ Thứ nhất, chương trình học quá nặng về thi cử. Nội dung và phương thức thi cử quyết định, chứ không phải là kiến thức quyết định cách thức và nội dung học của học sinh. Từ trước đến nay, mọi người thường chỉ nói là hãy cố gắng học tốt để mà thi tốt nghiệp và đại học… chứ không ai nói là “con ráng học Tích Phân và Đạo hàm để về nhà tính toán hàng hóa dùm mẹ” cả
. Mục đích của việc học những kiến thức đó là để thi đại học và có kiến thức để học đại học. Tiếc là chưa đến 20% học sinh không vào được đại học. Bây giờ, nếu bạn gặp một học sinh cấp 3 và hỏi, “em học tính chất hòa học của kali để làm gì?”, gần như chắc chắn là học sinh đó không biết câu trả lời mặc dù biết rõ tính chất hóa học của Kali.
+ Thứ hai, chương trình học tạo tính ì cho suy nghĩ của học sinh. Nó tạo ra những giá trị tuyệt đối bất di bất dịch và không những không phát triển mà còn kìm hãm tư duy độc lập của học sinh. Enstein, nhà bác học vĩ đại nhất, đã nói: “trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức”. Còn chúng ta thì đang nhồi nhét vô đầu học sinh kiến thức, biến học sinh thành những cái máy hơn là những con người. Hãy xem các công ty hàng đầu như Microsoft, Google… họ tìm kiếm những con người biết suy nghĩ đột phá và nghi ngờ mọi giá trị…
+ Thứ ba, những giá trị đạo đức và nhân văn đang bị lãng quên. Đến ngôi trường nào, người ta cũng thấy câu “tiên học lễ, hậu học văn”. Thế nhưng, trong hơn mười môn học, chỉ có khỏang 2 -3 môn có thể xem dạy làm người, đó là văn học, lịch sử, giáo dục công dân. Trong đó, giáo dục công dân rất nhiều trường chỉ dạy chiếu lệ, thậm chí còn bỏ tiết dạy dồn để dành thời gian cho những môn khác. Lịch sử thì từ một môn thú vị bị biến thành một cơn ác mộng đối với học sinh bằng những bài học thuộc lòng dài dằng dặc. Còn văn học? không hiểu một lý do gì mà càng ngày càng nhiều học sinh không còn hứng thú với môn học này nữa, thậm chí nhiều sinh viên còn xem vịêc đọc và viết là một cực hình. Các kỳ thi tuyển sinh thì cũng nhằm mục đích tìm những cái máy biết tính tóan và suy luận, xem xem “cái máy” nào nhanh, mạnh, có dung lượng lớn chứ không phải là tìm những con người thật sự.
+ Thứ tư, hệ thống giáo dục đang tạo ra một thế tệ tương lai yếu đuối, thua kém về cả sức khỏe và vóc dáng so với thế giới, lại bị thêm căn bệnh học trò như về mắt và cột sống v.v.… Chúng ta đang tạo ra một thế hệ “què quặt”, phát triển không toàn diện và đồng đều. Thử hỏi nếu như không có sức khỏe của một người lính, thì một người như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không thể chỉ trong vài ngày có thể đi hết nước này đến nước khác phát biểu và nói chuyện với các vị lãnh đạo, nguyên thủ quốc gia… Thậm chí vị thủ tướng Úc năm, sáu chục tuổi qua Việt Nam chạy tập thể dục buổi sáng mà cánh nhà báo toàn là thanh niên theo muốn hụt hơi. Thật đáng hổ thẹn.
+ Cuối cùng, chương trình học quá lý thuyết và giáo điều, nặng nề, và thừa thãi. Cái này đã được bàn cãi và mổ xẻ nhiều lần, không cần nói thêm gì nữa. Ở đại học, trước mỗi khóa học, sinh viên thường được biết môn mình đang học nói về cái gì, có ích lợi gì. Còn ở phổ thông, năm này qua năm khác, không thay đổi. Nhàm chán và nhiều học sinh thậm chí không bíêt mình học những cái đó để làm gì cả.
Vậy nếu tôi là Thủ Tướng, tôi sẽ làm gì để thay đổi?
Vì hệ thống giáo dục phụ thuộc quá nhiều vào thì cử, tôi sẽ bắt đầu quyết liệt từ vấn đề này.
+ Thứ nhất, bỏ hòan tòan kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Một học sinh đã đủ điều kiện học phổ thông và vượt qua không biết bao nhiêu kỳ thi trong suốt 3 năm học thì không có một lý do gì để phải thi thêm một kỳ thi để quyết định tất cả 3 năm học đó cả. Một kỳ thi như thế chỉ kiểm tra được khả năng “cày” của học sinh mà thôi. Nếu chúng ta phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng để tổ chức một kỳ thi chả có ý nghĩ gì như thế thì chúng ta hãy dùng số tiền đó để xây thêm trường, tăng thêm lương cho giáo viên, cung cấp học bổng cho sinh viên …
+ Thứ hai, bỏ kỳ thi đại học tập trung và chia theo khối như hiện tại. Thay vào đó, sẽ có một kỳ thi tổ chức rãi rác quanh năm do cục khảo thí đảm nhiệm tổ chức và có 2 môn chính đó là Tóan Học và Ngôn Ngữ (cần có sự phân biệt giữa Ngôn Ngữ – khả năng truyền đạt và lĩnh hội tri thức – và Văn Học). Hai môn này dùng để kiểm tra năng lực trí tuệ của học sinh, và là yêu cầu tối thiểu của một sinh viên bất cứ ngành nào, biết suy luận và biết diễn đạt. Bên cạnh 2 môn đó sẽ có thêm những bài thi kiếm tra kiến thức đã học trong trường phổ thông các môn toán, lý, hóa, văn học, sử, địa v.v…. tùy theo yêu cầu của từng ngành từng trường mà học sinh muốn theo học. Các môn thi này không dòi hỏi chương trình kiến thức lớp 12, tức là học sinh lớp 11 là cũng có thể thi. Như thế thời gian sẽ rộng rãi và không gây sức ép cho học sinh. Suy cho cùng những kỳ thì và những con số chỉ nói lên 1 khía cạnh của trí não của một con người.
+ Thứ ba, Mỗi trường đại học phải có một ban tuyển sinh riêng và tuyển sinh gần như quanh năm. Để tuyển sinh không dựa hòan toàn vào một số liệu nào cả. Tức là phải dựa vào cả học bạ, điểm của kỳ thi được nói ở trên để kiếm chứng học bạ đó, các thành tích đã đạt được, các họat động ngọai khóa v.v… Có một sự khác bịêt rõ rệt về điểm số giữa học sinh chỉ biết ngồi nhà học như một cái máy và một học sinh tham gia tất cả các hoạt động ngọai khóa, cũng như có sự chênh lệch điểm số giữa những học sinh “gà chọi” ở thành phố và những học sinh bình thường ở nông thôn….
Chúng ta tìm kiếm những con người để đào tạo chứ không phải là những cái máy. Xin nhắc một điều là rất rất nhiều vĩ nhân và nhà bác học vĩ đại như Darwin, Enstein, Edison,… chỉ là những học sinh cực kỳ bình thường. Vì vậy không nên vì những điểm số mà lọai bỏ những con người ưu tú. Vậy thì làm sao để nhận biết ra họ? câu trả lời đó là những trường tốp trên như các đại học quốc gia, ngọai thương, y dược v.v… cần phải yêu cầu học sinh gửi thêm 1 vài bài luận về những chủ để nhất định như là “Trả nghiệm nào trong cuộc sống gây sự ảnh hưởng và thay đổi đến cuộc đời bạn”, “Ước mơ của bạn là gì?” … Thử nghĩ xem, giữa một học sinh giỏi nhưng không có hoài bão ước mơ và một học sinh khá đầy nhiệt huyết và quyết tâm, có hòai bão, người ta sẽ chọn ai?
Các bài thi phải được trắc nghiệm hóa phần lý thuyết, một phần vì lý do kiến thức phổ thông chỉ là những kiến thức cơ bản, không cần đòi hỏi suy luận sâu, vậy nên nếu chỉ dùng hình thức tự luận thì rất bất cập. Với sự thay đổi về cách thức kiểm tra và thi cử như thế, chắc chắc cách học của học sinh sẽ phải thay đổi.
Tiếp theo về chương trình học, tôi sẽ lược bỏ hầu hết những phần học mà đối với một học sinh bình thường nếu học xong cũng không biết để làm gì.
+ Cụ thể, bộ môn tóan, lý, hóa sẽ bỏ hết những phần học quá nhiều và không ứng dụng vào thực tế, bù lại, những kiến thức đó học sinh có thể học ở trường đại học chuyên ngành. Cụ thể ví dụ như môn tóan, sẽ bỏ bớt những phần thuộc toán giải tích và hình học giải tích, thay vào đó, những phần còn lại sẽ được dạy thông thoáng thời gian hơn, liên hệ thực tế v.v… nhiều hơn. Về vật lý và hóa học, thay vì nhồi nhét lượng kiến thức như hiện tại, sẽ chuyển sang 1 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập và thực hành, kiến thức sẽ được giảm bớt, thay vào đó là thực hành, và điểm thực hành phải có trọng lượng ngang như điểm lý thuyết.
+ Những môn như lịch sử, địa lý, sẽ tránh hòan toàn tình trạng đọc chép hiện nay, thay vào đó, học sinh nên được giáo viên hướng dẫn cách ghi chép bài vở cho logic. Các câu hỏi phải hỏi ít hơn về đòi hỏi trí nhớ mà phải đòi học sinh suy luận, suy nghĩ về những cái đã học. Tức là không nên trắc nghịêm hóa hòan toàn mà là tỉ lệ khoảng 60-40: 60 trắc nghiệm lý thuyết, 40 tự luận. Học sinh phải học cách tự viết ra suy nghĩ, bày tỏ quan điểm của mình thay vì học thuộc lòng và chép lại máy móc chữ nghĩa của người khác. Về Văn học – tiếng Việt, sẽ giảm số thời lượng học các tác phẩm văn học lại, mà thay vào đó, các tiết làm văn – ngôn ngữ sẽ được nâng lên. Không ít học sinh tốt nghiệp phổ thông nhưng không thể diễn đạt bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết một cách rõ ràng và rành mạch. Học sinh sẽ không được thụ động mà phải tập tự học và diễn đạt lại cho người khác. Các bài thuyết trình và làm việc nhóm phải là bắt buộc và tính điểm 10-20% trong hầu hết các môn học.
+ Môn giáo dục thể chất phải được tăng thêm thời lượng và phải dựa trên sở thích của học sinh. Không có một lý do gì một học sinh thích chơi bóng rổ lại cứ phải học điền kinh năm này qua năm khác. Học sinh phải lựa chọn môn giáo dục sở thích yêu thích của mình và được phân lớp học theo sở thích. Nhà trường phải tạo điều kiện cho việc phát triển thể chất tương xứng với giáo dục về văn hóa.
+ Các họat động ngoại khóa phải được mở rộng, học sinh được khuyến khích thành lập các câu lạc bộ riêng. Những họat động ngọai khóa phải được ghi lại trong học bạ như một phần quan trọng để xét tuyến sau này. Nhà trường phải tổ chức các họat động ngọai khóa một cách mạnh mẽ, phải có những buổi nói chuyện tiếp xúc giữa những người đã thành công trong xã hội với học sinh v.v… Phải xác định rõ một điều là nhà trường là nơi để đào tạo nhân cách và tri thức, là nơi sản sinh ra những con người hoài bão, yêu nước…. Bác Hồ đã nói “có tài mà không có đức cũng chỉ là kẻ vô dụng”. Một con người tốt là một con người được phát triển và giáo dục toàn diện.
+ Tùy mỗi trường, có thể tố chức các lớp nâng cao cho các môn học dành riêng cho các học sinh yêu thích và có năng lực. Điều đó không có nghĩa là cánh cửa đại học đã được dành sẵn cho những học sinh này. Mà ngược lại, ai chứng tỏ được trong 3 năm học phổ mình tận dụng thời gian của mình một cách hiệu quả, chứng tỏ được sự trưởng thành mới chính là những học sinh được nhận vào đại học.
2. Giáo dục đại học:
Tôi sẽ không tiếp tục nói về những nhược điểm của GD đại học Vịêt Nam. Mà sẽ đi thẳng vào 2 vấn đề:
+ Muốn đào tạo tốt thì phải có tiền, vậy kiếm đâu ra tiền?
+ Có tiền, nhưng làm sao để đào tạo tốt.
- Tiền:
+ Nếu các trường đại học đến chừng nào còn không tự chủ được về tài chính, thì lúc đó các trường sẽ luôn thiếu tiền. Cần phải để các trường đại học tự chủ hóa mạnh mẽ.
+ Tạo điều kiện cho các trường tư thục phát triển. Một thực tế, những trường hàng đầu trên thế giới rất nhiều là trường tư. Trường tư không có nghĩa là học sinh nghèo không thể theo học, mà trường tư chính họ sẽ tự vận động có những chính sách hỗ trợ và kêu gọi sinh viên giỏi theo học. Trong một buổi seminar của GS John Vũ, kỹ sư trưởng tập đòan Boeing, mà tôi được tham dự tại trường, có 1 vị là tổng giám đốc của công ty TMA – một công ty out sourcing phần mềm lớn trong nước và khu vực – đề nghị GS John Vũ giúp đỡ vì theo như ông ta nói, công ty ông ta muốn thành lập 1 trường đại học Công Nghệ Thông Tin nhưng mà nộp đơn xin giấy phép cả năm trời vẫn chưa được xử lý. Trung Quốc trong hơn 1 trăm năm, từ không có một đại học nào hiện nay có tới hơn 1300 đại học, thậm chí trong đó có những đại học hàng đầu thế giới. Còn chúng ta đang đứng ở đâu? Dưới đáy của thế giới. Hệ thống quản lý của nhà nước hiện nay không đủ mạnh để mở rộng và quản lý các trường đại học một cách hiệu quả, vì vậy cần phải có chính sách cụ thể ưu đãi các trường tư thục phát triển.
+ Ở Hoa Kỳ, đặc biệt các trường tư có một nguồn tài trợ rất lớn từ các quĩ của những doanh nhân thành đạt xuất thân từ các trường đó. Chúng ta thì không. Vì sao? Các trường đại học chưa tự chủ tài chính, chính sách hỗ trợ về thuế đối với những đóng góp vậy chưa có. Và một lý do quan trọng đó là có vẻ chưa có trường đại học nào có ý định làm như thế. Thiết nghĩ, những trường đại học lớn như đại học Bách Khoa, Y dược, họ chỉ cần tổ chức kêu gọi quyên góp để xây dựng trường chắc chắc sẽ thu về một khỏan tiền vô cùng lớn. Ví dụ, nếu một doanh nhân nào đó, ông Trương Gia Bình – người có số tài sản chỉ tính cổ phiếu thôi cũng lên tới hàng ngàn tỉ đồng – chẳng hạn, chắc chắn ông ta không ngại bỏ ra vài chục tỉ để xây 1 tòa nhà trong trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mà sau này sẽ mang tên ông ta mãi mãi… thêm vào đó công ty ông ta sẽ được có những ưu đãi trong vịêc tuyển chọn sinh viên làm việc chẳng hạn.
+ Chi phí để mỗi trường đào tạo sinh viên ở đâu ra? Từ nhà nước, chính là từ thuế, hay nói cách khác chính là từ nhân dân. Nhưng sinh viên tốt nghiệp xong đi làm cho các doanh nghiệp, hay nói cách khác các doanh nghiệp hưởng toàn bộ thành quả nhưng không mất gì cả. Rõ ràng điều đó thực sự rất bất cập và vô lý. Để thay đổi, chúng ta cần ban hành luật bắt buộc các doanh nghiệp phải đóng góp lại cho trường đại học những khoản tiền đào tạo tính trên mỗi sinh viên tốt nghiệp mà doanh nghiệp đó tuyển dụng. Khỏan đóng góp đó phụ thuộc và yêu cầu của từng trường đại học và có thể đóng góp bằng nhiều cách: tiền mặt, đóng góp trong quá trình đào tạo sinh viên như trang thiết bị, tạo điều kiện cho sinh viên thực tập v.v… Thậm chí có thể rõ ràng hơn bằng cách phân rõ ràng ra dựa trên năng lực của mỗi sinh viên, sinh viên càng giỏi thì doanh nghiệp cần phải trả lại 1 phần chi phí đào tạo nhiều hơn chẳng hạn… Khi nó đã trở thành luật pháp thì ai vi phạm nó đều có thể bị xử lý theo pháp luật, còn nếu nó chỉ là những qui định lỏng lẽo thì sẽ có nhiều ngõ ngách lách luật.
(to be continued being edited)
.Cách người Mỹ dạy học sinh tiểu học
19 Tháng Ba, 2007
|
Động lực đằng sau một cường quốc kinh tế là gì? Rốt cục họ đã có một nền giáo dục như thế nào? Sau đây là bài viết của một tác giả người Trung Quốc về nền giáo dục tiểu học Mỹ cộng với các câu chuyện để bạn đọc tiện so sánh hai nền giáo dục Mỹ – Trung Quốc. |
||
Mục tiêu giáo dục tiểu học Mỹ Cho dù là người Hoa ở Mỹ, bạn cũng khó hiểu rõ được đâu là trình độ tri thức mà học sinh tiểu học ở Mỹ phải đạt đến, sau đây chỉ là một tiêu chuẩn sơ lược để tham khảo. 1. Tốt nghiệp mẫu giáo Có thể nhận biết và phân biệt con số, có thể biểu đạt khái niệm toán học trừu tượng bằng những vật thể cụ thể như hòn sỏi, mẩu giấy, cái que…; nhận biết 26 chữ cái tiếng Anh, phân biệt nguyên âm và phụ âm; phân biệt được các ngành nghề khác nhau đại ý làm những gì, ví dụ như bác sĩ, giáo viên, người đưa thư, cảnh sát, cảnh sát phòng cháy chữa cháy… hiểu được quá trình diễn biến của cuộc đời sinh vật, bao gồm sinh, lão, bệnh, tử của con người, sâu biến thành bướm,…; học địa lý từ địa cầu, bản đồ; hiểu được rằng trên trái đất có rất nhiều cư dân, rất nhiều quốc gia và những màu da khác nhau, hiểu được rằng người cần ở trong nhà, trẻ em cần đến trường, người trưởng thành cần đi làm… 2. Lớp 1 Có thể đếm từ 1 đến 100, có thể đếm số có hai chữ số hoặc thế nào là bội số của 5, biết số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ đơn giản; học cách quan sát, chia ngành phân loại đối với những sự vật và vật phẩm khác nhau; có thể lấy dẫn chứng về quá trình diễn biến của sự sống, hiểu được quan hệ sống tương trợ giữa động thực vật trong thiên nhiên; học sử dụng tranh ảnh để biểu đạt ý; hiểu tính tất yếu của việc mặc, ăn, ở và mái ấm gia đình; hiểu rõ quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa những người làng xóm. 3. Lớp 2 Biết đọc, viết số có ba chữ số, từ năm số tùy ý chọn, có thể đếm xuôi hoặc đếm ngược; vận dụng thành thạo phép cộng trừ đối với số có hai chữ số, biết dùng những đơn vị đo lường như inch (tấc Anh) hoặc centimet để đo độ dài, biết xem đồng hồ; đọc sách, duy trì đều đặn việc viết (nhận xét, bình luận) sau khi đọc sách, học cách viết tổng kết, hiểu và phân biệt được những hình thức văn học khác nhau như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ký…, biết được sự khác nhau giữa tác phẩm hư cấu và tác phẩm phi hư cấu; bắt đầu học nghiên cứu độc lập về động vật, ví dụ như vấn đề sinh thái của côn trùng… 4. Lớp 3 Học được cách biến tư liệu thành biểu đồ; biết so sánh sự lớn nhỏ và cộng trừ trong phạm vi 100.000, thành thạo phép cộng, trừ, nhân, chia đối với số có ba chữ số; có thể lấy những tài liệu tại chỗ trong môi trường xung quanh, sưu tập, tổ chức tài liệu, hiểu được cách giữ gìn sức khỏe của con người, hiểu rõ quá trình diễn biến cuộc đời của những động vật nhỏ như: ếch, bướm, gà con, chuột bạch…; hiểu cách sử dụng tự điển; có thể hiểu tư tưởng của những tác phẩm và các nhà văn, họa sĩ mình yêu thích biểu đạt, hiểu được các tác phẩm văn học trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. 5. Lớp 4 Dùng máy tính để tính toán những con số rất lớn, so sánh lớn nhỏ trong phạm vi 1.000.000, học số thập phân và phân số, vẽ biểu đồ; có thể giải thích sự khác nhau của khí hậu giữa các vùng đất trên thế giới nhờ bản đồ, hình ảnh, biểu đồ; thông qua việc đọc, hiểu thêm một bước về những thể loại văn học khác nhau, ví dụ như tác phẩm khoa học viễn tưởng, truyện ký,… 6. Lớp 5 Biết điền, đọc các loại bảng biểu, thành thạo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số; có thể vận dụng hệ thống thư viện và các tư liệu để tiến hành nghiên cứu; tiến hành so sánh và tổng hợp các loại tin tức thông qua việc viết bút ký; bắt đầu tự viết những bài văn dạng tả thật (phi hư cấu) và những đoản văn theo thể thức năm đoạn; học được cách viết chính thức, không chính thức và cách viết thư cho bạn bè; hiểu việc chia ngành phân loại những sách báo khác nhau, có thể nắm được nội dung chủ yếu của một cuốn sách, đồng thời tiến hành bình luận về cấu tứ, bối cảnh, cách xây dựng nhân vật, phương thức biểu đạt, nghệ thuật ngôn ngữ. Giá trị cơ bản của văn hóa Mỹ Có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ có cảm giác rằng, một học sinh học lớp 5, chuẩn bị tốt nghiệp tiểu học mà yêu cầu về năng lực toán học chỉ là biết cộng, trừ, nhân, chia, thì trình độ… thấp quá. Một cô giáo mẫu giáo về hưu thấy học sinh tiểu học Mỹ suốt ngày “chỉ biết chơi” thì không khỏi ngạc nhiên và lo lắng cho cậu cháu Hoa kiều ở Mỹ của mình. Bà nói với mẹ của cậu bé: Nếu là ở Trung Quốc, áp lực của học sinh chuẩn bị tốt nghiệp tiểu học rất lớn, cả ngày phải cắm đầu vào làm bài tập… Nhưng cháu tôi thì sao? Mỗi ngày tan học về là đi đá bóng, chơi bóng bầu dục cùng lũ trẻ… thời gian cho việc làm bài, tập đàn ít như thế, làm mẹ thì phải chú ý! Người mẹ nói, thành tích của cháu ở trường hầu như là điểm A, trừ đôi khi ngẫu nhiên sai sót, nhiều lần cháu đem về toàn điểm 100. Đối với học sinh tiểu học ở Mỹ thì như vậy là đủ rồi. Giáo dục tiểu học không phải là giáo dục tinh anh, cần tạo điều kiện phát triển toàn diện cho trẻ, chú trọng việc kết bạn, vận động và những hoạt động ngoại khóa. Đương nhiên, người bà của cậu bé vẫn không bằng lòng, bà nói bài giảng của Mỹ quá nhẹ nhàng, bài tập quá đơn giản, thì chắc thi cử cũng rất dễ dàng. Bà nhấn mạnh, người Trung Quốc chúng tôi coi trọng các nền tảng cơ sở vững chắc. Kỳ thực, người Mỹ cũng coi trọng việc xây dựng nền tảng. Chỉ có điều cái gọi là “cơ sở” của người Trung Quốc và người Mỹ khác nhau. Người Mỹ coi trọng nền tảng làm người, quan niệm này đã được bồi đắp từ nhỏ. Cơ sở mà học sinh ở Mỹ cần tạo dựng là ý thức tự tin, thành thực, lương thiện, công bằng, bao dung và độc lập tự chủ để làm người, cũng có nghĩa là, ngay từ nhỏ, họ đã học được giá trị cơ bản của văn hóa Mỹ, chứ không phải là tri thức để phục vụ giá trị cơ bản này. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là có rất nhiều người Trung Quốc suy nghĩ như người bà kể trên, coi giáo dục trung tiểu học ở Mỹ là “hỏng bét”, mà nhiều nhất trong số đó không ai khác chính là những giáo viên trung tiểu học ở Trung Quốc. Cái mà họ đắc ý là những học sinh đứng đầu trong danh sách đoạt giải thưởng toán quốc tế hàng năm luôn là những học sinh Trung Quốc, giáo dục trung tiểu học ở Mỹ không thể so sánh được với Trung Quốc. Có lần, trên một tờ báo Trung văn ở Mỹ còn có một bài viết mang tên: “So về toán học, Mỹ chỉ có thể được coi là nước đang phát triển”. Trong một cuộc họp của người Hoa, các bậc cha mẹ nhớ lại những câu chuyện thời trẻ của mình, một nữ sĩ đã thẳng thắn nói, tiêu chuẩn chọn chồng khi đó dường như đều phải là “học giỏi”, cũng có nghĩa là “thành tích tốt”, ngoại hình, tính tình, tu dưỡng đều là thứ yếu. Trong mắt của các nữ sinh chỉ có những người đứng đầu lớp mới là tốt, người đứng đầu toàn năm lại càng tốt. Nhưng giờ đây, thế hệ sau của chúng ta thì sao? Nếu như bạn hỏi ai là bạn nam có thành tích học tập tốt nhất trong lớp thì con gái bạn ắt trở nên lúng túng, nhưng nếu hỏi, bạn nam nào giỏi thể thao nhất trường, thì con bạn sẽ rõ như lòng bàn tay vậy. Nếu bạn tâng bốc một cô gái xinh đẹp nào đó, bảo rằng cô sẽ lấy được một trạng nguyên, thì cô gái sẽ cho rằng không xứng đáng, thậm chí còn cảm thấy thua thiệt, “Cái gì, ai thèm cái đồ mọt sách đó?”. Những người học giỏi nhất (nếu chỉ biết học tập, không có sở thích, sở trường nào khác) thường bị bạn bè cô lập. Để tránh mất đi tình bạn, để được biết đến nhiều hơn, được hoan nghênh nhiều hơn, không ít học sinh xuất sắc đã từ chối học các lớp chất lượng cao (lớp vinh dự), sợ mất đi những người bạn cũ từ lớp phổ thông, thậm chí có một số học sinh còn cố tình làm bài sai trong kỳ thi để hòa đồng với bạn bè. Trong mắt của bọn trẻ, bạn bè, tình bạn, niềm vui quan trọng hơn thành tích rất nhiều. “Độ khó” trong bài tập của học sinh tiểu học Mỹ Một người cha Trung Quốc đưa cậu con trai chín tuổi tới Mỹ, cho con vào học một ngôi trường ở Mỹ thì trong lòng lo lắng vô cùng, không hiểu đó là trường học kiểu gì! Trong lớp học sinh tự do tùy ý thảo luận, có thể cười ầm ĩ; giáo viên và học sinh thường xuyên cùng ngồi bệt trên mặt đất không phân biệt lớn bé; vào giờ học mà cứ như đang chơi trò chơi; Ba giờ chiều đã là tan học; lại không có sách giáo khoa thống nhất. Ông đem cho giáo viên xem bài học tiểu học lớp 4 mà con ông đã học ở Trung Quốc, giáo viên nói với ông, cho tới lớp 6, con trai ông không phải học thêm môn toán nữa. Lúc đó, ông bắt đầu hối hận vì đem con đến Mỹ mà làm lỡ việc học của con. Ở Trung Quốc, cặp sách của học sinh nặng trịch những tri thức, còn nhìn con mình bây giờ, mỗi ngày mang cái cặp nhẹ tênh đến trường, đi học như đi chơi. Một học kỳ nháy mắt đã hết, ông không khỏi nghĩ ngợi, hỏi con, ấn tượng sâu sắc nhất khi đến Mỹ học là gì? Cậu bé đáp: “Tự do”. Lại một bận, cứ tan học, đứa trẻ lại chạy tới thư viện rồi mang một lô sách về nhà, thế mà chưa tới hai ngày đã trả. Ông lại hỏi, mượn sách nhiều như thế để làm gì? Con trai đáp: “Làm bài tập”. Sau đó, ông nhìn thấy tên bài tập mà cậu bé đang làm trên máy vi tính “Hôm qua và hôm nay của Trung Quốc”, ông kinh ngạc suýt ngã, đây là chủ đề môn học gì vậy? Thử hỏi vị nào đang làm tiến sĩ dám “ôm” đề tài lớn như thế? Ông chất vấn con trai, đây là chủ ý của ai, cậu bé hồn nhiên đáp: “Thầy giáo nói, Mỹ là một nước di dân, mỗi học sinh đều cần viết một bài về đất nước mà tổ tiên mình đã sinh sống, còn phải phân tích sự khác biệt so với nước Mỹ dựa trên địa lý, lịch sử, nhân văn, đồng thời phải đưa ra quan điểm và cách nhìn của mình”. Người cha im lặng. Mấy ngày sau, ông thấy bài tập của con trai đã xong, một tập gồm hơn 20 trang giấy, từ Hoàng Hà chín khúc đến văn tự tượng hình; từ con đường tơ lụa tới lá cờ ngũ tinh… Cả bài văn được viết với một khí thế hào hùng, có lý lẽ, có căn cứ, phân chương phân tiết, đặc biệt là một danh sách thư mục tham khảo ở phần cuối khiến người cha không khỏi bàng hoàng, cái cách thức của một luận văn tiến sĩ này, ngoài ba mươi tuổi ông mới học được. Đến khi sắp kết thúc học kỳ lớp 6 của con, ông lại được một phen cứng lưỡi, giáo viên đưa ra một loạt câu hỏi liên quan đến “Chiến tranh thế giới thứ hai”, nghe như một kỳ huấn luyện trước khi ứng cử của một thượng nghị sĩ tương lai: “Bạn cho rằng ai nên chịu trách nhiệm đối với cuộc chiến tranh này?” “Nếu bạn là cố vấn cao cấp của tổng thống Truman1, bạn sẽ tỏ thái độ gì đối với việc Mỹ ném bom nguyên tử?” Sự khác biệt giữa công nhân và ông chủ Người cha này vẫn nhớ rằng khi con trai ông tốt nghiệp tiểu học, cậu bé đã có thể sử dụng thành thạo hệ thống máy vi tính và vi phim của thư viện để tra cứu tư liệu và hình ảnh. Có lần, hai bố con tranh luận về tập tính săn mồi của sư tử và báo, ngày hôm sau, cậu con trai mượn từ thư viện tập phim về động vật của Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ, hai cha con vừa xem vừa thảo luận. Học sinh tiểu học của Mỹ lúc này đã học được phương pháp tìm đáp án ở đâu mỗi khi có nghi vấn. Ngoài thư viện, học sinh trung tiểu học ở Mỹ cũng tìm tài liệu trên các trang web liên quan khi làm bài tập và một số báo cáo nghiên cứu. Lưu học sinh Trung Quốc tới Mỹ làm tiến sĩ, từ lúc vào học tới lúc tốt nghiệp, giành được học vị tiến sĩ cần năm năm. Trong viện nghiên cứu sinh, rất nhiều người có cảm giác rằng người Mỹ thường không phải là đối thủ của lưu học sinh Trung Quốc trong chuyện thi lấy học bổng, nhưng cứ đụng tới lĩnh vực thực tiễn, làm một vài vấn đề có tính nghiên cứu, thì người Trung Quốc không thể linh hoạt được bằng người Mỹ, không có tính sáng tạo dồi dào như họ. Tới khi cầm được bằng tiến sĩ để đi tìm việc, viết sơ yếu lý lịch, họ lại lạc hậu một bước lớn, không biết tự quảng bá cho bản thân mình. Không thể “viết về bản thân mình” không phải vì họ không biết, mà là vì không có đủ bản lĩnh để thể hiện cái “tôi” của mình. Đương nhiên, điều này có liên quan tới sự bất đồng giữa giáo dục và toàn bộ hệ thống giáo dục cơ sở. Người Trung Quốc chỉ quen phát huy bản lĩnh trong một khung quy định nào đó, một khi không còn quy định, mất đi sự chỉ đạo, không nhìn thấy hệ thống quy chiếu vốn có nữa, thì với người Mỹ là giành được tự do, còn với người Trung Quốc, có lẽ chỉ còn lại cảm giác mất phương hướng, khủng hoảng, trống rỗng, không biết dựa vào đâu. Khi đã công tác được năm năm, mười năm, thực tế ấy lại càng rõ ràng hơn. Người Trung Quốc thường chỉ có thể làm kỹ thuật, cùng lắm là lên quản lý một bộ phận kỹ thuật nào đó, dường như không mấy ai làm được giám đốc công ty lớn. Người Trung Quốc không phục những ông chủ không giỏi về kỹ thuật và thường băn khoăn: bản lĩnh của họ rốt cục nằm ở đâu? Bản lĩnh đó là: hiểu được sở trường của từng thành viên trong công ty, giúp họ phát huy tận lực sở trường của mình, nhân viên và công ty cùng hợp tác, nâng cao giá trị của công ty mình trong mắt nhà đầu tư và khách hàng, không ngừng thu hút thêm vốn đầu tư và tăng thêm đầu ra cho sản phẩm… Hiển nhiên, đây là tác phẩm của một ông chủ, chứ không phải của một công nhân. Anh Sa (Dịch từ Văn cảo báo, 29/04/2007) |
Triết lý giáo dục
15 Tháng Ba, 2007
1 bài viết được trích từ blog của big_bang (link)
Tháng 10/2007, Bộ GD-ĐT sẽ mở hội nghị bàn về “triết lý giáo dục”. Từ tháng 1 đến tháng 4, Bộ GD-ĐT sẽ phác thảo đề cương để có thể thông báo rộng rãi với công chúng.
Tại sao giáo dục của đất nước chúng ta lại có nền giáo dục kém?
Việc gì cũng vậy, muốn phát triển được thì phải đi từ cơ bản! Chúng ta đang thiếu một tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong giáo dục! Cái đó người ta gọi là “triết lý giáo dục”. Nền giáo dục xưa của Việt Nam có triết lý rất rõ ràng đó là “học cách làm người” nền giáo dục đó đã tạo ra biết bao nhiêu con người kiệt xuất vang danh thiên cổ, từ võ tướng, đến các quan văn, rồi các bậc nho gia cả đời theo nghiệp dạy học… Triết lý đó có thể đúc kết học không đúc kết thành một tư tưởng chủ đạo xuốt chiều dài lịch sử, nhưng vẫn giữ nguyên tính chất, điều đó là do sự giao lưu của thời xưa không nhiều. Chúng ta không du nhập nhiều nền văn hoá như bây giờ nào là : TQ, Pháp, Nga, Mỹ…. Điều đó lý giái cho việc chúng ta cần 1 triết lý giáo dục!
Lại nói về việc đi từ cơ bản! Thiết nghĩ chúng ta đã xem nhẹ điều này trong giáo dục nước nhà! Xét trên bình diện lớn toàn nước, chúng ta có thể thấy các căn bệnh chạy theo thành tích đó hiển nhiên không phải là “bẩm sinh” mà nguyên nhân là việc thiếu quan tâm đến “cơ bản”. Tại sao lại liên quan đến nhau? Những số liệu thống kê luôn phản ánh bề nổi của một vấn đề! Đó là điều không phải bàn trong các bộ môn khoa học, và trong thực tế cũng vậy! Không nên đánh giá một vấn đề qua các thống kê! Thi tốt nghiệp tỷ lệ cao! Thi học sinh giỏi có nhiều kết quả! … Ngay cả việc thi quốc tế! thử hỏi nếu để tự học sinh phấn đấu kết quả sẽ thế nào, nếu không có các thầy giáo nhiều năm kinh nghiệm trong các kì thi quốc tế thì liệu có các cao thủ giật huy chương … Ngẫm ra mới biết chúng có liên quan!
Tiếp tục bàn về vấn đề đi từ cơ bản! Chúng ta hay thường nghe nhắc đến cụm từ “những bước đột phá” trong khoa học cũng như trong cuộc sống! Cụm từ này làm cho chúng ta có một tư tưởng nực cưởi trong đầu là: “chúng ta có thể bỏ qua những điều cơ bản chỉ cần lắm bắt được những khoa học tiên tiến các nước là chúng ta có thể làm khoa học, là có thể áp dụnh thành thục vào thực tế” Chớ trêu là không phải như vậy! Đó chỉ là cách hiểu “nôm na” của giới báo chí, còn với những người nghiên cứu thực sự thì khái niệm “bước đột phá” để nói rằng đồ thị phát triển trở nên “thẳng đứng” (độ dốc cao) không hề hàm ý là “bước nhảy vọt đứt đoạn”. Tất cả mọi bước đột phá đều đi từ những điều cũ, mọi phát kiến khoa học đều đi có quá trình xây dựng và kế thừa!
Đi từ cơ bản giúp con người biết suy nghĩ! Chúng ta du nhập quá nhiều những thành tựu của xã hội bên ngoài mà không tiêu hoá hết. Nó tạo cho chúng ta một thói quen hưởng thụ. Một cảm giác dư thừa! Nhưng khốn nỗi chúng ta lại không thể khai thác được tối đa nói phục vụ cho lợi ích của mình vì chúng ta không hiểu về nó, như vậy có thể nói là chúng ta không biết hưởng thụ. Đó là một sự xoay sở trong tình trạng mất gốc, điều đó là không thể chấp nhận được trong bối cảnh hội nhập, khi mà giờ đây thông tin còn nhiều hơn bao giời hết!
Quay trở lại vấn đề giáo dục thực tại! Theo Big_bang chúng ta đang tồn tại một nền giáo dục chạy theo. Thể hiện ở: Tiểu học đã bắt giải toán thành thạo, làm cả đống bài tập, chiếm hết thời gian vui chơi, vậy còn đâu những ý tưởng viển vông sáng tạo… đó không phải là điều tốt điều rất đơn giản ấy tại sao chúng ta không sửa được! Nhỏ đã vậy càng lớn càng phân hoá, những trẻ viển vông thì bị loại khỏi những môi trường đào tạo tốt, có những bạn bè tốt, thầy cô tốt… Trong môi trường mới làm xấu đi con người và chỉ một số ít trở thành những người có ích!
Triết lý giáo dục thực tại! “Giáo dục để tạo ra những con người biết làm việc chứ không phải tạo ra những con người biết suy nghĩ” đó là điều mà tôi nghe được ở đâu đó, và nghĩ lại cũng thấy đúng là giáo dục của Việt Nam mình như vậy! Họ có cái lý riêng để mọi người tin vào triết lý đó: “Việt Nam muốn phát triển thì cần phải tạo ra những con người có kỹ năng làm việc, biết cập nhật công nghệ và áp dụng công nghệ!” Thiết nghĩ đó chỉ là lý lẽ ngông cuồng ! Luôn cập nhật được những công nghệ mới của thế giới không phải là chuyện đơn giản nhất là với những con người không biết suy nghĩ! Vả lại, cứ như vậy khác nào chúng ta luôn phải theo đuôi của họ đâu thể nào gọi là vì sự phát triển!
Giáo dục hiện tại đang thủ tiêu những người biết suy nghĩ! Chỉ cần 1 vế của triết lý: “giáo dục để tạo ra những con người biết làm việc …” là đủ để chứng minh sự thủ tiêu đó! Vì ngay từ nhỏ (cơ bản) triết lý đó đã đi vào đầu những con người trẻ tuổi, điều đó làm trẻ nhỏ đã không còn chú tâm đến phương pháp luận nữa! Mà như trên đã nói cơ bản quan trong như thế nào!
Thiết nghĩ Bộ Giáo dục và Đào Tạo! Đang có một hướng đi tích cực là Mở hội nghị “triết lý giáo dục” Nhưng điều gì cũng có hai mặt, có một “triết lý giáo dục” là điều tốt, cho phát triển giáo dục nước nhà! Nhưng do “triết lý giáo dục” là tư tưởng chủ đạo cho giáo dục nên càng phải thận trọng.
Big_bang xin nêu ra triết lý giáo dục của mình: “giáo dục để đào tạo ra những con người biết suy nghĩ” có lẽ đó mới phù hợp với triết lý giáo dục xưa “học cách làm người “. Có được triết lý giáo dục ấy! Chắc chắn sau này Việt Nam sẽ “…có nhiều người Tài Đức giúp dân giúp nước”! Biết đâu đất nước chúng ta lại vượt trước thời đại!
Có một câu chuyện về Einstein mà big_bang rất tâm đắc: Trong chuyến đi Mỹ năm 1921, tại Boston, Einstein được đưa cho bảng câu hỏi Edison để trả lời, người ta muốn xem ông trả lời đúng đến đâu như một trắc nghiệm thông minh. Đến câu hỏi về vận tốc âm thanh, ông trả lời: “Điều đó tôi không biết. Tôi không muốn làm nặng nề trí nhớ của tôi với những sự kiện như thế, những thứ mà tôi có thể tìm thấy dễ dàng trong bất cứ từ điển bách khoa nào”.
