Ra đi mang về – Giới thiệu
10 Tháng Ba, 2007
Xin mượn lời của 2 tác giả Tiến Hùng và Trần Nguyên (nguồn)
Lịch sử có những cơ hội, đường biên giới đóng kín đã trở nên rộng mở, chân trời khát vọng vốn mênh mông lại càng trở nên mênh mông và nhiều thách thức hơn. Bước chân người Việt sau những cuộc hành trình dài với những khúc quanh, những biến cố của thời gian, của lịch sử… đã hòa nhập với cả nhân loại.
Câu chuyện của chúng tôi là những câu chuyện về những người Việt trong dòng chảy thời gian không mệt mỏi này.
Nhiều người đã ra đi và nhiều người đã trở về, với một hành trang đầy đặn và một khát vọng về các cuộc chơi lớn cùng bạn bè quốc tế. Mỗi người trong họ đi trên những con đường khác nhau, trên những nẻo đường có cả hoa và chông gai, thách thức. Họ đã trở về, cũng từ mọi nẻo đường với lắm suy tư, trở trăn và hi vọng.
>Hành trang họ mang đi là một giá trị Việt Nam, cái mà họ mang thêm về là những tài sản tri thức của thế giới hiện đại. Để có nó, người Việt đã tự mình thích nghi với đất trời lạnh giá, hay không khí đốt cháy thịt da… ở nơi xứ lạ quê người. Nhưng ẩn dưới lịch làm việc dày đặc giữa trời tuyết trắng hay ngày nắng cháy da, là một nỗi niềm, một khao khát mãnh liệt về một đất Mẹ Việt Nam trên tầm cao mới…
>Những người thực hiện chỉ muốn chia sẻ những câu chuyện tìm được trên đường làm báo, trên những con đường tìm kiếm bạn bè người Việt vòng quanh thế giới. Chúng tôi muốn gửi một niềm tin: biết đâu những bạn trẻ hôm nay đang cầm trên tay quyển sách này ngày mai, ngày kia, sẽ là một nhân vật trong hành trình “ra đi và mang về” – để chúng ta có thể tiếp tục nhiều câu chuyện hướng về con đường của hi vọng phồn vinh…
Ra đi mang về – lời ngỏ
9 Tháng Ba, 2007
Xin bắt đầu từ bài viết của một sinh viên (nguồn)
Đã hơn một tuần kể từ lúc báo Tuổi Trẻ HCMC cho đăng loạt bài viết về du học sinh với cái tít thật lớn:”RA ĐI VÀ MANG VỀ”, ngày nào sau khi tan học, tôi cũng chạy ù ra sạp báo gần nhà để mua ngay tờ TT để được đọc và được học hỏi từ họ-những thanh niên đại diện cho thế hệ trẻ VN đầy bản lĩnh, sáng tạo và rất đỗi yêu nước…..
Nhìn họ rồi ngẫm lại mình, tôi chợt cảm thấy xấu hổ, xấu hổ cho cái tuổi 19 tràn đầy nhiệt huyết, xấu hổ cho những kiến thức mà mình đã được học trên ghế nhà trường, và xấu hổ cho cả sự hèn nhát của bản thân. Sinh ra và lớn lên từ mảnh đất đầy nhọc nhằn và gian khổ này, tôi tự hỏi:”Mình đã làm được gì cho đất nước?”. Ban ngày thì đến trường, tối đến lại đi làm thêm, vòng xoáy cuộc sống dường như đã dập tắt mơ ước trong tôi tự bao giờ. Tốt nghiệp ĐH, ra trường tìm một việc làm nào đó kha khá, cuộc sống thảnh thơi, bấy nhiêu là đủ, chẳng cần quan tâm đến chuyện gì khác, đấy chẳng phải là mơ ước của tôi cũng như một số bạn trẻ bây giờ sao? Thụ động, không thích sự mạo hiểm, thói quen ấy đã khiến tài năng của chúng ta dần mai một. Tôi vẫn nhớ như in câu nói mà nhỏ bạn thân đã nhắn cho tôi trước ngày lên đường sang NUS học:” Tao đi chuyến này nhất định phải mang cái gì đó thiệt hay về cho nước mình, mày ạ! Chứ cứ cái đà SV mình ra nước ngoài học rồi ở lại đó luôn là không được! Tao thấy nước mình còn nghèo lắm, mong rằng ngày tao trở về cũng là lúc hoàn thành ước mơ của hai đứa. Tụi mình cùng cố gắng nha!…” Đã rất lâu rồi, tôi với nhỏ đã cùng hứa với nhau là sẽ xây một ngôi làng dành cho trẻ mồ côi mang tên:”Mơ ước” và sẽ cùng xây dựng những dự án Tình nguyện Quốc Tế nhằm góp phần cải thiện bộ mặt xã hội VN hiện nay….
Ngày nhận được giấy triệu tập, hai đứa ôm nhau khóc như mưa, hẹn nhau đến ngày nhỏ trở về sẽ thực hiện ước mơ đó……
Mới đấy mà đã được gần một năm kể từ hôm nhỏ đi. Có lúc, tôi tưởng chừng mình đã quên lời hẹn cũ. Mãi cho đến khi tôi đọc được loạt báo trên, niềm tin vào sức trẻ ngày nào lại sôi sục trong tôi. Bên kia biển Đông, chắc rằng nhỏ cũng như tôi, đang nỗ lực hết mình vì quê hương, vì Tổ quốc.” Nhỏ ơi, tao xin lỗi vì đã quên lời hứa với mày. Bây giờ thì tao biết mình nên làm gì rồi. Tao chờ mày về đó nghen, nhỏ!”
Ra đi mang về – phần 1 – Lắng nghe đất nước, kết nối 5 châu
8 Tháng Ba, 2007
Phùng Tiến Công (nguồn)
Những nhân vật chính trong loạt bài này là những du học sinh đã chọn lựa con đường quay trở về Tổ quốc từ một nền giáo dục phát triển ở một quốc gia giàu có và hiện đại nào đó.
Tài sản họ mang về không phải là những đồng tiền hay cái “tây học” mà điều chính yếu là những ý tưởng mới, những tư duy mới, những công nghệ mới…
Cậu bé, con của một người công nhân lò gạch, sinh ra và lớn lên bên bờ suối của một xã vùng cao miền Sơn La, cạnh những bản làng người Thái. Làm đủ mọi việc: chăn trâu, mò cua, bắt ốc và từng phải ăn rau thay bữa cơm trắng thường ngày…
Ấy thế mà đi du học một ngành hiện đại và trở về, làm “ông chủ” của một ngôi nhà âm nhạc trong thế giới đường truyền, tập hợp mọi người cho ý tưởng: “Lắng nghe đất nước, kết nối năm châu”.
Phùng Tiến Công như một điển hình của thế hệ 8X lớn lên từ những khốn khó nơi vùng sâu xa…
Tạo ra thế giới cho mình
Lần đầu gặp Phùng Tiến Công, nói chuyện cả tiếng đồng hồ vẫn chưa biết anh chàng này là dân du học vừa trở về từ Úc. Người ta ít để ý nếu anh xuất hiện giữa đám đông. Có chăng thì đó là một chàng trai có bộ dạng của dân tỉnh lẻ, nhỏ con, đen đúa, nói chuyện rất lanh.
Gặp rồi mới biết, biết tới một lúc nào đó bạn sẽ thấy rằng mỗi khi Công nghiêm mặt lại, tập trung ánh nhìn vào bạn, mắt to lên, ấy là lúc anh ta sắp đưa ra một ý tưởng mới hay ít ra một nhận xét khiến bạn sẽ giật mình.
Ghé nơi làm việc, tạt qua căn gác trọ… thể nào cũng gặp vài quyển sách nói về chuyện… làm giàu. Ngồi uống một chai bia, bất chợt im lặng và Công sẽ đọc cho bạn nghe thơ. Một thứ thơ tâm sự chứa đầy da diết và mượt mà tình cảm.
Sinh năm 1981, học trường làng cho đến hết năm lớp 9, Công được một người cô đưa về thị xã nuôi cho ăn học. Tới đó mới biết thế nào là điện đóm, tivi, văn minh phố phường.
Hãy nghe cách tính toán của Phùng Tiến Công ngày còn học trường làng: “Mỗi buổi đi học mang theo một quả trứng gà sẽ đổi được một cái bánh nướng và một cốc nước; mang theo một viên gạch nung đến bán cho một gia đình đang xây nhà trước cổng trường sẽ được 50 đồng/viên, mười viên đổi được một cái bánh nướng”.
Suốt năm năm tiểu học, mỗi ngày cậu nhóc con phải đi 5km đến trường. Một buổi học, một buổi quảy chú em 2 tuổi đi chăn năm con trâu cho xí nghiệp gạch, bữa nào không chăn trâu thì coi có ai làm gì đấy, bốc vác ít đá gạch, hay mót ngô, đào măng… đem tí cái ăn về phụ cha mẹ…
Lên cấp III, mỗi tháng muốn về nhà phải quảy bị cuốc bộ 10km. Rồi sang Úc học bốn năm và mang tấm bằng kỹ sư sinh – tin học cùng hàng loạt giải thưởng trở về TP.HCM làm giám đốc FPT Music – vẫn gầy và đen, ở căn gác trọ chừng bốn, năm mét vuông cạnh khu sân bay.
Sáng đến công ty, tối mịt trở về, mở cái cửa sổ ngửa nghiêng ngắm nhìn bầu trời và trong đầu hiện ra hàng trăm dự định biến những phần khác của thế giới thành một mối liên kết tình cảm nào đó với cánh tay âm nhạc của mình.
Một Phùng Tiến Công cứ lắc lư linh động, khi ở Hà Nội, lúc ở TP.HCM, khi đang thương lượng mua bản quyền âm nhạc ở đâu đó. Mấy tháng trước, phần dịch chuyển còn phải nhờ hẳn một cô bạn gái chở đi bởi Công vẫn chưa quen được với thế giới ồn ã và chật chội “kiểu Sài Gòn”…
Công có xu hướng biến thế giới chung quanh thành một cái gì đó liên hệ với mình, thuộc về mình nhiều hơn. Mới vừa sang Đại học Queensland, trong sự choáng ngợp trước một đất nước mới lạ, có hai sự lựa chọn: hòa tan vào tập thể cho giống mọi người ở cái thế giới phát triển hay cùng những người chung quanh mình tìm cách tạo ra một môi trường phát triển cho chính mình.
Và Công đã chọn lựa, đã khẳng định được chính mình: năm 2000, nhận học bổng toàn phần của Chính phủ Úc (AusAID) sang Queensland học ngành công nghệ sinh học.
Năm 2001, giành giải ba cuộc thi “Trí tuệ VN” với phần mềm nghe nhạc Vietkar, chuyển sang học ngành công nghệ sinh – tin học (bioinformatics). Năm 2002, giành giải vàng công nghệ thông tin & truyền thông châu Á – Thái Bình Dương với bản phát triển của Vietkar thành Vietnam Audio.
Năm 2004 về nước chuẩn bị mọi điều kiện để 2005 nhacso.net ra đời và Phùng Tiến Công trở thành giám đốc FPT Music, và chỉ trong vòng chưa tới một năm Công có trong tay trên 1 triệu lượt khách hàng.
Nghĩa là năm năm thay vì chấp nhận một hành trình: học hành, việc làm và trở thành một công dân ở một quốc gia phát triển thì Phùng Tiến Công có lối đi riêng, con đường riêng, thế giới riêng… kết nối vào âm nhạc, truyền thông và những phương tiện mới nhất có thể đẻ ra tiền và sánh vai thiên hạ trong tương lai.
Làm một người Việt chủ động…
“Nhìn ra bên ngoài, mọi thứ giống như là thế giới đã làm hết rồi. Chỉ có công nghệ thông tin và những ứng dụng truyền thông của nó thì thế giới đi cách đây năm bảy năm và không có lý do gì để ngăn cản người Việt mình đuổi kịp và sánh ngang hàng cùng họ.
Những “đại gia” truyền thông trong khu vực nằm sát cạnh ta là Thái Lan, Hong Kong lớn mạnh từ những điều tưởng như đơn giản nhất và sau đó nhanh chóng thu gom thế giới lại chung quanh mình.
Thời đại của Internet và thế giới ảo, cơn sốt của log với nhu cầu “cá thể hóa” tối đa bản sắc cá nhân trong xu hướng toàn cầu na ná nhau với tất cả mọi vật, mọi người. Ở đó, ai nắm bắt và khơi gợi được nhu cầu, đáp ứng được tiếng nói riêng giữa những cái chung choáng ngợp, người đó sẽ tìm ra lối đi cho chính mình.
Tôi đang nói cách giải quyết vấn đề, nhiều lúc tưởng chúng ta bí lối. Tôi đi mua bản quyền âm nhạc, người ta ngạc nhiên bởi chưa thấy một ai đi làm việc lạ lùng: mua bản quyền và tung lên mạng những tác phẩm âm nhạc giữa cái thế giới mà một đĩa nhạc gốc không thể sống nổi với nạn sao chép đang được ngang nhiên bày bán giữa trăm ngàn shop CD ngoài đường.
Gần như ai cũng biết và lắc đầu trông vào một tương lai, nhưng nếu không xắn tay áo lên, cái tương lai ấy bao giờ mới đến?
Ở một góc độ nào đó, giả tưởng như thế này: thay vì gào lên hoặc tìm cách cấm đoán hay dẹp tiệm những cửa hàng băng đĩa lậu, sao người ta không nghĩ đến một ngày nào đó biến hàng ngàn cửa hàng có sẵn ấy thành một vệ tinh nhỏ trong hệ thống phát hành rộng lớn và chính thống của mình? Tôi chọn lối tư duy theo kiểu đó”.
Công nói, sau một lúc im lặng, tập trung ánh nhìn vào người đối diện. Tốc độ tư duy của chàng giám đốc nhacso.net này có lẽ cực nhanh và quyết đoán.
Tài sản hiện giờ của Công là trên 18.000 bản nhạc số được “phát hành” với bản quyền chính thống, một đội ngũ những cộng sự thuộc thế hệ 8X – trẻ, trình độ giỏi “cấp… quốc gia” và có những ý tưởng táo bạo, “chịu chơi”… đang hợp tác với nhau.
Một căn gác trọ nhỏ xíu, một gia đình với bố mẹ vẫn ở quê Sơn La và hẳn là tiền bạc mà chàng giám đốc 24 tuổi đang “thống trị” một lĩnh vực mới toanh này mang về cho bố mẹ mình chưa được là bao, chưa giống như sự trông đợi của chòm xóm láng giềng về một cậu Phùng Tiến Công “đi học tây về”.
Nhưng Công bật cười mỗi khi nhắc chuyện tiền nong và hình như Công cũng chưa cần nhiều lắm tiền bạc bởi anh có một tài sản là mảnh đất mới, cái vốn học từ nước ngoài được mang về VN và thỏa sức cày bừa nó.
Công còn có quá nhiều dự định để làm, nhiều ý tưởng để thăng hoa cùng đồng nghiệp. Công quí họ, cảm thấy chưa đủ với những lời khen mình dành cho họ, nhưng đó là những người – Công biết – sẵn sàng xả thân với mình trong những thử nghiệm mới sau này. “Tôi tự hào và sung sướng vì được chủ động làm, được làm việc cùng nhiều người giỏi, được trao quyền và trao tiền để thực hiện những ước mơ…”.
Giờ, thú giải trí thèm khát nhất của Công vẫn là “đội một chiếc mũ lá, khoác mảnh áo sờn, xắn quần lên và vác mớ cần câu ra suối cùng một người bạn thân, giữa những ngút ngàn màu xanh của núi đồi, thung lũng…”.
Nhưng Công vẫn đang phải ở chốn đô thị cùng với “nhạc số chấm net” bay đi khắp mọi miền, qua năm châu, bốn biển. Nhạc Việt xóa hết mọi cách ngăn, mọi ranh giới bất đồng, mọi đơn độc hay tủi buồn nơi xứ lạ, quê người nào đó.
Tôi nghĩ tới một đêm của Phùng Tiến Công với những đĩa nhạc, những quyển sách và ý tưởng luôn “nhúc nhích” trong đầu: “Tôi muốn làm một người Việt chủ động. Và ở một phía nào đó của vòng trái đất, trong đêm đầu năm, ai đó mail về: Cảm ơn bạn, mấy chục năm rồi tôi mới nghe được những bài hát từ VN mình. Cảm thấy như kết nối được với quê nhà!”.
Những lời thì thầm cứ vang lên như thế…
Sau bốn năm du học, họ trở về quê nhà, về lại ngôi nhà nhỏ để bắt tay xây dựng một dự án lớn ngay tại đồng bằng sông Cửu Long: một mô hình giáo dục mầm non hiện đại và một hệ thống thư viện điện tử với mạng không dây…
NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG
Ra đi mang về – phần 2 – Vợ chồng và tài sản từ nước Mỹ
7 Tháng Ba, 2007
Vợ chồng và tài sản từ nước Mỹ (nguồn)
|
Đôi vợ chồng Minh – Quỳnh kiểm tra “lớp học điện tử” trong thư viện ĐH An Giang – Ảnh: N.V.T.H. |
TT – Một trường mẫu giáo quốc tế đa ngôn ngữ đầu tiên cho trẻ em miền Tây, mô hình “lớp học điện tử” và hệ thống thư viện với mạng không dây (wireless) sẽ làm cho sinh viên ĐH An Giang trở thành nơi đầu tiên ở VN “sờ” tới cái laptop tại khuôn viên trường đại học của mình.
Đó là hai công trình đang được triển khai tại một trường đại học hết sức non trẻ của vùng ĐBSCL, tác giả là đôi vợ chồng du học sinh trở về từ nước Mỹ.
Giọt nước mắt nơi xứ người
Nửa đêm giữa trời Virginia, Quỳnh đứng khóc ròng nhìn Minh cặm cụi đẩy cây lau nhà trong dãy hành lang vắng tanh của ngôi trường trung học bốn tầng ở một thành phố nhỏ. Quỳnh đòi theo để coi công việc bán thời gian của chồng. Họ mới cưới nhau được một tháng và đưa nhau qua Mỹ theo học bổng tiến sĩ hóa mà Minh giành được. Đó là thời điểm của năm 1998.
Ba tháng trước, cứ tưởng đưa Quỳnh sang Mỹ hai người sẽ tiện tặn để cùng đi học và trông chờ kiếm thêm một học bổng nào đó. Cái sai lầm đó qua tới bên kia mới biết: muốn xin học bổng dễ nhất chỉ có tại VN chứ ở Mỹ thì… mò kim đáy biển. Chưa kịp ổn định, Minh lại đưa ra một quyết định: bỏ học bổng tiến sĩ hóa, chuyển sang tự túc học master công nghệ thông tin (CNTT).
Minh đã có hai lần thay đổi quyết định quan trọng: xong cử nhân ngành hóa của ĐH Bách khoa, học tiếp chương trình thạc sĩ hóa chỉ còn hai môn thi cuối thì bỏ ngang đi học CNTT vì… thích. Rồi cái hồ sơ thi tuyển học bổng có vẻ “nặng ký” với thành tích hóa học hơn và suất học bổng tiến sĩ rơi vào tay Minh qua ngành hóa.
Ba tháng trời thử cố gắng với những công thức hóa học lần nữa nhưng tiếng nói trong lòng Minh mạnh hơn: nó vẫn không thật sự là niềm đam mê. Minh đã từng bỏ bằng cấp thạc sĩ khi chỉ còn hai môn thi cuối thì sao lại phải bắt đầu với những năm năm ở nơi này?
Nhưng bỏ học bổng nghĩa là bỏ gần cả ngàn USD/tháng – nguồn tài chính quan trọng để tồn tại trên đất Mỹ? Những đêm thức trắng. Quyết định cuối cùng: chuyển về ĐH Strayer ở Virginia học ngành CNTT. Sẽ xả thân ra làm để kiếm tiền đi học cho bằng được.
Một tuần sau khi về Virgina, Minh thở phào khi tìm được công việc làm vệ sinh cho một ngôi trường trung học trong vùng với giá 8 USD/giờ, mỗi tuần làm bốn đêm, mỗi đêm năm giờ. Thời gian lúc ấy chật như nêm: 19g20 ra khỏi nhà đi làm đến 1g sáng mới về, học tiếp đến 4g thì ngủ.
9g tới trường học cả ngày ở đó, đến 5g thì đón Quỳnh cùng về. Những ngày còn lại trong tuần lại xin đi làm bồi bàn, ở nhà thì nhận thêm việc chế bản điện tử cho một xí nghiệp in người Việt, cuối tuần hoặc mùa hè thì xin được chân nướng thịt ở quầy thịt nướng cho một đoàn festival (một dạng “hội chợ”) của người Việt rong ruổi qua các nẻo đường nước Mỹ. Để nhận được 100 USD/ngày, Minh chọn vị trí khó nhất: đứng cạnh bếp lò nướng thịt khi nhiệt độ ngoài trời lên tới 40OC.
Quỳnh học kế toán và xin được việc ở cửa hàng CD rồi làm thêm kế toán cho một công ty nhỏ. Thời gian trôi qua, những giai đoạn cực nhọc nhất cũng tạm lùi dần. Sau bốn năm, vợ có bằng kế toán, chồng lấy master ngành CNTT. Trước khi rời nước Mỹ, “quà tặng” của cuộc đời là bé Song Quê – cô bé quê gốc Cần Thơ nhưng mang quốc tịch Mỹ.
|
Trong quán cà phê trước cổng trường, Minh san sẻ thật lòng: “Nếu nói cơ chế hạn chế nhiệt huyết đóng góp của du học sinh trở về thì tôi đặt câu hỏi này: giả sử có một cơ chế thoáng như Đại học An Giang thì mọi người có cùng về hay không? Suy cho cùng, một số anh chị đi học nước ngoài về có khi cũng đặt ra nhiều tiêu chuẩn lắm. Riêng tụi tôi thì tại ước muốn của mình quá mạnh, muốn làm tất cả, thể nghiệm tất cả những gì mình học được trên quê hương mình – nó mạnh tới mức khiến mình có thể thức từ đêm này qua đêm khác vẫn thấy hình như là chưa đủ thời gian…” Và anh gửi một lời: “Thầy Xuân đã mở một cánh cửa cho chúng tôi và những ai tâm huyết – vậy thì – mọi người cứ cãi nhau về cơ chế, bây giờ khi nó không cản trở nữa, nó cho người ta làm tất cả… liệu mọi người sẽ về chứ?”. |
Dự án mầm non trong trường đại học
“Làm cực, học cực, nhưng thú thật, cảm giác khó tả nhất là khi xách vali lên máy bay về lại quê nhà. Sướng nhất và lo nhất: về sẽ làm gì bây giờ? Mặc dù trong đầu cả hai đứa chưa hề có từ ở lại”.
Đó là tâm trạng của đôi vợ chồng sau bốn năm du học. Cảm giác ấy chấm dứt trong một dịp rất tình cờ: mồng 4 tết, trong một quán nem nướng ở Cần Thơ, họ gặp giáo sư, tiến sĩ Võ Tòng Xuân. Hai vợ chồng đến chào và thông báo với thầy mình vừa đi học ở Mỹ về. TS Xuân hỏi gọn: “Rồi các em định làm gì?”. Đáp: “Chưa có chỗ làm, thầy ơi!”. “Tới nhà thầy chơi đi”.
Tại nhà thầy, đôi vợ chồng trẻ kể với thầy những dự định về một trường mầm non quốc tế, về những ứng dụng hiện đại của CNTT vào môi trường giáo dục đại học… Thầy nghe và bảo: “Thôi thì mấy đứa có lòng, về Đại học An Giang với thầy, trường mới lập, còn nghèo nhưng thầy trò mình làm được nhiều điều tâm huyết”.
Tháng 3-2003, hai vợ chồng đưa cô con gái về tới Long Xuyên. Thầy Xuân và hiệu phó Lê Minh Tùng (hiện giờ là phó chủ tịch tỉnh) bỏ một cuộc họp ở tỉnh để đón hai vợ chồng và đưa vào ngôi nhà nhỏ của trường, nói chân tình: “Đây là nhà của hai em!”. Vậy là sau bốn năm từ nước Mỹ, họ về lại ngôi nhà nhỏ để bắt tay vào những dự án lớn của mình.
Sau đó là những chuyến đi liên tục của Quỳnh từ California tới Oakland (Mỹ), tới Thái Lan, Singapore… “Tôi và thầy Xuân thống nhất với nhau một điểm: thử bắt đầu bằng một việc cụ thể và quan trọng nhất trong hệ thống giáo dục của mình – giáo dục mầm non. Ở Mỹ, Singapore… chỉ những cử nhân mới được đứng lớp mầm non.
Và điều kiện bắt buộc là phải được cấp chứng chỉ về giáo dục mầm non dù cho anh có bằng tiến sĩ cũng vậy”. Quỳnh dừng thật lâu trước buổi học của trẻ con các trường Saint Michel, Siam… (Thái Lan) khi người ta dạy lập đi lập lại cùng một bài học cho trẻ nhỏ bằng ba thứ ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thái…
Họ đã tạo ra một môi trường tiếp nhận kiến thức và giao tiếp chứ không chỉ dạy tiếng. Người Thái đã làm rất lâu rồi và Quỳnh gặp tại Mỹ những bạn người Thái rất giỏi kể rằng họ đã học trường quốc tế ở Thái Lan theo cách đó.
Vậy là cặm cụi ngồi viết đề án, liên hệ các tổ chức phi chính phủ cho các chuyến tham quan, chuẩn bị nguồn nhân lực của một ngôi trường mầm non quốc tế sẽ mở ngay trong Đại học An Giang. Ngôi trường đã hoàn tất bản thiết kế. Một mô hình đào tạo trọn gói hiện đại và đầy tham vọng của miền đồng bằng này.
Và lớp học điện tử ở đồng bằng
Với môn tiếng Anh chuyên ngành kinh tế, Quỳnh chỉ phải lên lớp khoảng 40%, thời gian còn lại dành cho công việc khác: ra bài tập, thảo luận, tranh luận… tất cả diễn ra trên mạng, trong chương trình của Quỳnh. Đó cũng là nội dung lớp học điện tử của Minh. Điều chủ yếu của nó là tạo mối liên kết: ở đó, tiến trình giáo dục không có thời gian gián đoạn.
Người ta có thể gặp trên “lớp học ảo” những chủ đề tranh luận giữa sinh viên và giảng viên, giữa sinh viên với nhau hay đơn giản hơn, một câu hỏi: “Thầy ơi, chừng nào thi lại môn của thầy?”. Đây là một chương trình quản lý môn học và được thiết kế như một “trang web sống” mà các giao dịch liên tục diễn ra.
Có lẽ cho tới hiện giờ, xét tính hiệu quả và qui mô thì “lớp học điện tử” đang là “hàng độc” mang lại hiệu quả thật sự cho môi trường giáo dục hiện đại của một ĐH tỉnh lẻ còn trẻ măng như ĐH An Giang. Chỉ sau một năm, có 10% giảng viên tham gia sinh hoạt, giảng dạy trên “lớp học điện tử” này.
Phần thứ hai song song là giáo trình điện tử của giáo viên: 183 giáo trình yếu lược, 75 giáo trình hoàn chỉnh đã được đưa vào lớp học. “Mọi chuyện không phải là dễ vì đụng phải thói quen cùng quá trình tiếp cận có hạn đối với CNTT, nhưng trường đã hỗ trợ tôi bằng chính… nghị quyết Đảng bộ nhà trường.
Tháng 3-2003 tôi về, tháng 8-2003 Đại hội Đảng bộ và tôi (chưa phải là đảng viên) được xuất hiện để báo cáo kế hoạch về “lớp học điện tử” và giáo trình điện tử. Nghĩa là nhà trường đã “chơi hết mình” với những ý tưởng mới của mình” – Minh kể.
Công việc tiếp tục của anh hiện nay là xây dựng “thư viện điện tử” cho trường. Minh cũng sẽ trở lại với dự án trang web “Elangviet.net” như một cổng thông tin về nông nghiệp với cả hệ thống giúp đỡ người nông dân “định bệnh” cho hoa màu, dự đoán xu hướng giá nông sản “thật nhất” thông qua các dữ liệu lưu trữ giá thị trường…
Mấy ngày nay, Minh chạy lên chạy xuống TP.HCM cho dự án thư viện điện tử di động – một dự án khá tiên phong của Đại học An Giang: lần đầu tiên sẽ có mạng wireless (mạng không dây) trong khuôn viên trường đại học. SV có thể mượn những chiếc laptop tra tìm thông tin hoặc lên lớp học ảo. Dự án đang chạy và Đạm Phú Mỹ sẽ là nhà tài trợ.
Trong câu chuyện trở về này, một người thầy đã được nhắc đến với lòng kính trọng – người đã mở cánh cửa để đón nhận tấm lòng và tri thức của bao bạn trẻ. 35 năm trước ông cũng là một người trở về, cố gắng để “nhân mình ra” cho đất nước này…
NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG
Ra đi mang về – phần 3 – Tâm tình Võ Tòng Xuân
6 Tháng Ba, 2007
Tâm tình Võ Tòng Xuân (nguồn)
| Giáo sư – tiến sĩ Võ Tòng Xuân tại Đại học An Giang – Ảnh: N.V.T.H. |
TT – Tiến sĩ Võ Tòng Xuân xuất hiện trong loạt bài này bởi ông là đại diện của một thời du học sinh trở về quê hương giữa cảnh chiến tranh và ở lại lo “chạy gạo” của thời hòa bình. Còn hiện giờ, Trường ĐH An Giang của ông đang là một “cánh cửa” mở cho những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết.
Trước sau ông chỉ nói đi nói lại một điều: “Nếu trái tim nóng mà gặp cục nước đá sẽ tan nát hết. Phải biết cách sử dụng những tấm lòng của bao bạn trẻ…”.
“Nhân mình ra” cho đất nước mình
Năm 1971, tôi đang giảng dạy ở Viện Lúa quốc tế tại Philippines. Nhiều anh em ở miền Nam sang học. Lúc đó viện trưởng Đại học Cần Thơ là ông Nguyễn Duy Xuân viết thư sang cho tôi: “ĐBSCL không có ai chuyên về lúa cả, nếu anh về làm ở đại học chắc sẽ giúp ích được nhiều hơn. Chiến tranh rồi sẽ có ngày hòa bình, cái ăn sẽ luôn luôn đi đầu, rất cần những người như anh…”.
Bà xã tôi lo: “Đang chiến tranh, về nước họ bắt đi quân dịch thì mai một cuộc đời!”. Một lần nữa, viện trưởng viết thư sang hứa sẽ can thiệp hoãn quân dịch. Thú thật, tôi không tin lời hứa đó nhưng an ủi vợ mình: “Về thì mới biết được, em à!”. Tâm trạng của những người ở xa đất nước là nhiều lúc thấy bơ vơ, nghĩ tới ông bà, cha mẹ tự dưng có một cảm giác không thể tả được, giống như mình mắc một cái tội vậy!
Ngày 9-6-1971, chúng tôi gói ghém hành lý, tạm biệt Viện Lúa quốc tế để về VN làm công việc mà tôi ý thức rõ ràng: cố gắng để “nhân mình ra” cho đất nước.
|
Ông Phúc Tiến, giám đốc Trung tâm du học Hợp Điểm (TP.HCM): “Trong lịch sử du học của châu Á thì Nhật Bản từng có thời hạn chế việc du học ở nước ngoài, chỉ khi nhà nước có yêu cầu mới cử người đi học. Ở miền Nam nước ta, chuyện ấy xảy ra trong thời Ngô Đình Diệm. Ở Trung Quốc, sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, nhà nước tạo điều kiện cho cả trăm ngàn sinh viên đi du học. Lớp sinh viên đó sau này đã tạo thành một “làn sóng du học sinh trở về”. Chính họ đã mang sở học từ các quốc gia hiện đại về xây dựng đất nước. VN thời mở cửa, chúng ta bắt đầu cử người đi học các nước tư bản từ những năm 1990. Cột mốc đáng chú ý nhất là thời điểm tháng 1-2000: cánh cửa thật sự mở sau một nghị định của Chính phủ qui định thông thoáng hơn trong xuất nhập cảnh. Du học tự túc bùng nổ. Tôi nghĩ tới giờ này đã là thời điểm tốt nhất để trở về. Đó là các yếu tố thuận: kinh tế phát triển, bang giao Việt – Mỹ và nhiều quốc gia đã tốt hơn nhiều. Không nên quá đặt nặng vấn đề đi hay ở mà hãy chú ý đến những “tài sản” mà du học sinh mang về cho Tổ quốc từ hành trình du học của họ…”. |
Cần Thơ thời đó tuy là trung tâm của đồng bằng nhưng cũng ít có người giỏi về lắm. Một mình tôi dạy bảy môn và hướng dẫn luận văn tốt nghiệp. Riêng chỉ hai năm 1972 – 1974 tôi đã hướng dẫn được 25 SV làm luận văn tốt nghiệp. Lúc đó trong nước không có người làm ngành này, chỉ có một mình làm theo ý mình. Mình mà nhân ra được người nào, mừng người đó.
Lương chính thức chỉ có 21.000 đồng, giá một tô phở thời ấy là 35 đồng/tô. Nghĩa là không thể đủ để nuôi gia đình. Phải ở nhờ nhà ba tôi. Nhà nghèo, ông già cũng ở nhờ ở đậu mà thôi. Tôi nghĩ cách đi làm thêm.
Từ Viện Lúa về, tôi quen nhiều công ty hóa chất, có Công ty Ciba – Geigy muốn mở đại lý bán thuốc trừ cỏ ở VN, họ nhờ tôi làm môi giới và lo phần VN. Công ty này mướn cho tôi một cái nhà tại Sài Gòn để ở, lúc này mới thoát khỏi cảnh ở đậu chui rúc. Thời gian của tôi lúc này coi như kín cả tuần: 4g sáng thứ hai phải chạy xe về Cần Thơ để 8g đứng lớp, làm việc và tối đó ngủ lại trường.
Ngày thứ ba, 5g chiều chạy lên Sài Gòn để làm việc cả ngày thứ tư cho công ty. Sáng thứ năm về Cần Thơ, chiều thứ sáu lên Sài Gòn. Ngày thứ bảy làm việc cho công ty rồi ngày chủ nhật lại đi các vùng thử nghiệm thuốc trừ sâu mà tiếp xúc nông dân. Mức lương tôi lúc đó là 125.000 đồng. Tôi nghiệm ra một điều: ở bất cứ đâu, nơi nào, chỉ cần có kiến thức và sức khỏe là người ta có thể làm nên mọi việc.
Dành một chỗ cho người trở về…
Suy từ kinh nghiệm bản thân, tôi hiểu những người trẻ tuổi từ nước ngoài trở về có rất nhiều nhiệt huyết. Bởi chỉ cần đi ra một chút, ai thức thời sẽ thấy đất nước mình đi chậm hơn thiên hạ và người “có lòng” sẽ thấy mình phải làm một điều gì đó với một trái tim nóng bỏng. Nhưng nếu trái tim nóng ấy mà gặp cục nước đá, sẽ tan nát hết. Phải biết cách sử dụng những tấm lòng của bao bạn trẻ.
Trường hợp của Minh và Quỳnh, tôi gặp các em rất tình cờ trong dịp tết. Hai em thú thật chưa chọn công việc ở đâu. Quỳnh nói với tôi về một mô hình ngôi trường mẫu giáo quốc tế cho đồng bằng. Minh có kế hoạch về lớp học điện tử, về thư viện điện tử và những ứng dụng công nghệ thông tin cho trường đại học.
Với tôi, tất cả những điều ấy đều có thể làm từ Trường đại học An Giang. Cánh cửa phải mở và bắt đầu từ chính nguồn lực này. Quỳnh thì tôi biết từ hồi còn là sinh viên, cô rất giỏi tiếng Anh; Minh là một người đọc và nắm thông tin rất nhanh, có thể góp phần rất lớn từ lĩnh vực công nghệ thông tin mà trường tôi đang thiếu.
|
“Tôi đi nhiều nước, thấy anh em học hành bây giờ thật khó mà đoán được nhiệt tình với đất nước ra sao, bởi họ phải đối diện với một môi trường có lắm xa hoa và nhiều cám dỗ, cơ hội thì nhiều nhưng thử thách cũng không ít lắm. Một số lại lo lắng: không biết về sẽ đóng góp được gì. Tiếc là có một số phụ huynh cũng không muốn con mình trở về. Gia đình là quan trọng lắm, phải hun đúc chí hướng ngay từ gia đình và cha mẹ phải nói được với con cái mình về tiền đồ dân tộc, về nguồn lực đất nước. Ở ĐH Cần Thơ hồi xưa, chúng tôi chọn mặt gửi vàng và hầu hết 100% các em đi đều trở về. Bởi mình đã thấy được chí hướng của họ trong quá trình học tập tại trường. Có những trường hợp xin được học bổng nhưng lý lịch các em gặp khó. Tôi đích thân lên gặp giám đốc công an tỉnh bảo lãnh: “Cậu này tâm tư nguyện vọng tôi biết hết, mấy ông ở xã chỉ biết ba nó, chú nó nhưng tôi thì biết nó. Anh cho nó đi đi”. Giám đốc công an gật đầu: “Tôi tin anh, cho nó đi thôi”. Cứ như vậy, các em đi rồi về toàn bộ. ĐH An Giang từ năm 2001 cũng đã gửi được 17 em đi học. Tôi đã chọn và các em sẽ trở về…”. TS Võ Tòng Xuân |
Chúng tôi mời các em về làm việc. Lúc đầu mình xuất tiền túi cho các dự án nhưng phải nói của nhà tài trợ để các em yên tâm, rồi cũng vận động được Dupont tài trợ cho dự án lớp học điện tử của Minh. Cậu ấy làm hiệu quả tới mức Đại học An Giang trở thành một ngoại lệ để Dupont tài trợ liên tiếp hai năm trong các chương trình của mình. Và mới đây nhất, Minh đã lấy được tài trợ của Điện đạm Phú Mỹ với hệ thống thư viện wireless (sử dụng laptop với mạng không dây trong khuôn viên) và một phòng thí nghiệm về phân bón cho trường.
Rồi tôi đi Học viện Công nghệ châu Á (AIT), một đồng nghiệp giới thiệu: có một đứa rất giỏi đang học môi trường. Tôi tìm ra, đó là Khánh, một sinh viên vốn từ Đại học Bách khoa sang, quê lại ở An Giang, vậy là rủ em về. Khánh mạnh về môi trường, đặc biệt là môi trường nước. Tôi chạy vạy tìm dự án cho em làm.
Có một trường đại học Nhật đang có chương trình nối kết các nước trong khu vực Mekong, tôi vận động để An Giang gia nhập và giao cho Khánh làm. Cậu ấy vừa làm vừa học tiếp với người Nhật và giờ thì vừa hoàn thành một dự án về cải tạo môi trường nước vùng hạ lưu Mekong.
Tôi nghĩ trong bất cứ môi trường nào cũng phải tuyệt đối mở rộng tầm tay với các em. Phải tìm một chỗ trong cơ quan của mình để cho những tài năng có thể phát triển thành tài năng đất nước, không nên nhìn họ như những người sẽ giỏi hơn và chiếm vị trí của mình.
Tôi cũng đang liên hệ với một cô đang học master một ngành lạ, một chuyên ngành rất hẹp của xác suất thống kê. Đó là cô bé con gái của một cán bộ ngành thuế ở An Giang, học rất giỏi và giành học bổng đi Singapore từ năm học lớp 10 rồi tự tìm học bổng đi Mỹ và sang cả Anh để học đại học và master. Em cứ điện về hỏi tôi kiếm giùm em một chỗ để về làm.
Tôi đã kiếm cho em một chỗ trong bảo hiểm bởi bảo hiểm rất cần ngành mà em học để dự báo thiên tai. ở vùng sông nước mình em có thể xác định được tần số bão lụt, em sẽ giúp tính để người nông dân có thể mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm nông nghiệp sao cho công ty bảo hiểm không bị lỗ mà nông dân mình cũng không bị “cắt cổ” nữa.
Đó, tất cả những người tài như vậy có đi ra rồi mới thấy đau lòng tại sao dân mình cần cù, thông minh như vậy mà nghèo. Thấy rồi mới tự ái, tự ái thì họ sẽ làm mọi thứ cho đất nước, dân tộc mình thôi. Hãy dành một chỗ khi họ trở về…
Rời trung tâm nghiên cứu nông nghiệp lớn nhất Nam Á, anh trở về với công việc hiện đại hóa miệt vườn. Và ông tiến sĩ bắt đầu công việc với hai đàn ruồi có nhiệm vụ đẻ trứng vào những trái xoài…
NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG