Đừng xem “chất xám ra đi” là tiêu cực
17 Tháng Mười Hai, 2007
|
00:05:42, 16/06/2006 |
|
Báo Thanh Niên tiếp tục đăng tải những ý kiến, nguyện vọng của các du học sinh xung quanh việc nhân tài ra đi liệu có quay về. Câu hỏi “Du học sinh ở lại hay trở về” là vấn đề được đặt ra khá lâu nhưng vẫn luôn mang tính thời sự. Còn tôi – một nghiên cứu sinh đang theo đuổi, tìm hiểu giáo dục ĐH của Australia và thế giới tại ĐH Melbourne (Australia) cho rằng, giáo dục VN, trong đó có giáo dục ĐH đang chuyển mình dữ dội. Chính vì thế, chúng tôi phải về để tận dụng cơ hội này, để làm cái mà bản thân mình ấp ủ hoài bão từ lâu và để sống có ích. Tuy nhiên, theo tôi, trong thời đại toàn cầu hóa, phải chấp nhận hiện tượng “chất xám đi”, “chất xám về” và “chất xám lại ra đi” bởi lẽ luân chuyển chất xám là hiện tượng toàn cầu của nền kinh tế tri thức. Đừng xem việc “chất xám ra đi” là tiêu cực, chẳng qua các du học sinh chỉ là “vắng nhà” một thời gian thôi để “sạc” thêm năng lượng, để sau này cống hiến tốt hơn. Còn nhớ, thời gian còn làm giáo viên tại ĐH Ngoại thương cơ sở 2 TP.HCM, tôi rất muốn thay đổi cách giảng dạy của mình cho sinh viên (SV) và mong muốn có một thế hệ SV mới tại VN: vừa hồng, vừa chuyên, có tầm nhìn và khả năng xông pha quốc tế. Lúc đó, khi nghe tin học trò đoạt học bổng quốc tế tại Nhật, Australia, Mỹ, tôi cảm thấy sung sướng vô cùng. Rồi khi nghe tin học trò trở về VN làm việc sau những năm du học, tôi thấy sướng thêm lần nữa vì chứng kiến “chất xám đã quay về”! Là một nghiên cứu sinh, tôi được tham gia nghiên cứu nhiều dự án tại Melbourne và tham dự nhiều hội thảo chuyên ngành quốc tế. “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn xông pha” và “tự thân vận động” là phương châm khắc phục những khó khăn của tôi khi học ở nước ngoài. Tôi rất tâm đắc với câu nói: “Muốn ra biển lớn, phải chấp nhận quy luật của biển lớn thì mới tồn tại được!”. Thế nhưng, cũng phải nhìn nhận rằng, điều mà không ít SV VN đang thiếu chính là cái tầm mang tính “quốc tế hóa”. Tôi biết các trường ĐH Nhật Bản hiện đang “quốc tế hóa” dữ dội, đầu tiên là thành lập các trung tâm xuất sắc (centre for excellence) để tạo “brand” (thương hiệu) cho mình và tạo cú hích nhất định cho các ngành, trung tâm khác, từ đó mới đi lên được… Còn chúng ta, những “sản phẩm” do các trường ĐH đào tạo chưa cạnh tranh được với chất xám quốc tế, thể hiện trong việc “tiếp thị” đề tài nghiên cứu, ở năng lực làm việc quốc tế… Tại các nước như Anh, Mỹ, Australia đều có những chính sách thu hút chất xám, thể hiện qua việc họ tạo điều kiện cho SV du học ở lại làm việc, nghiên cứu. Chẳng hạn tại Australia, SV quốc tế được phép ở lại một năm sau khi tốt nghiệp để học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu làm việc. Tôi gọi đây là hiện tượng “chất xám luân chuyển” và cho rằng nó là một xu thế không thể thay đổi được. Riêng bản thân tôi, như đã nói, tôi sẽ chọn con đường trở về. Ở VN, tôi hy vọng sẽ có cơ hội tốt để phát triển bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội. Trước mắt, tôi có nhiều dự định để làm. Hiện nay, tôi là một thành viên trong Ban chủ nhiệm CLB Du học sinh TP.HCM (OVS) – một câu lạc bộ “kết nối SV Việt năm châu”. Tháng 8 tới, nhóm OVS sẽ tổ chức Ngày hội du học cho du học sinh tại TP.HCM, cung cấp những kinh nghiệm “xương máu” cho các bạn SV và học sinh muốn đi du học. Mặt khác, nhóm chúng tôi đang triển khai chương trình “Nhịp cầu thực tập” để giúp du học sinh có sự hiểu biết thực tế với môi trường đầu tư, sản xuất trong nước… Các thành viên trong CLB đều có “lửa” dữ lắm và mong muốn đóng góp được chút gì cho quê hương. Vấn đề chính là phải biết khơi ngọn lửa ấy cho nó bùng lên và lan rộng ra. Nguyễn Bá Chinh |
Một quốc nạn còn đáng lo ngại gấp bội tệ nạn tham nhũng
11 Tháng Mười Hai, 2007
|
||
Đó chính là hiện trạng giáo dục. Có ở đâu mà người dân phải kêu lên trên báo chí: “Con tôi khổ quá, ông Bộ trưởng Giáo dục ơi!”? Có bao giờ lại đổ đốn lắm bằng cấp “tưởng rằng đồ thật, hóa đồ chơi” đến như bây giờ? (1) Có tiến sĩ dạy đại học cho in giáo trình sai kiến thức cơ bản, có thầy giáo vòi tiền “mãi điểm” thi của sinh viên, rồi những kẻ dùng bằng-lái-mua gây tai nạn giao thông chiếm kỷ lục thế giới; có kẻ mang danh trí thức, nghệ sĩ mà đạo văn, đạo nhạc, đạo tranh không còn biết xấu hổ là gì… Để xảy ra tình cảnh đáng sợ đó có trách nhiệm của hệ thống giáo dục không? Chắc chắn là có. Điều căn dặn được nhấn mạnh “là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” trong di chúc của Hồ Chủ tịch về việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, nỗi khắc khoải trước ngày mất của Thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự xuống cấp nghiêm trọng của giáo dục, là những chỉ giáo chiến lược, tầm lo âu về đại sự quốc gia. Lẽ ra, chúng ta, đặc biệt những vị có thẩm quyền chức năng, phải có những quyết sách thực tiễn hiệu quả, chứ không chỉ tốn công của vào những văn bản mỹ tự suông, những đối phó bị động tạm bợ, “cải tiến” quẩn quanh kiểu con kiến leo cành đa cụt như bấy lâu nay! Một thầy giáo Việt kiều, vốn quen cung cách làm ăn nghiêm chỉnh, được mời về thỉnh giảng ở ta, nhận ra ngay thảm trạng của lối học rập khuôn sáo vẹt (replicant model) đó: “Ở giảng đường Việt Nam, tôi có hỏi thế nào, các em cũng không trả lời, không thích hoặc không dám trả lời, mặc dù tôi chỉ hỏi sự tiếp thu của các em về phần tôi đã giảng. Có những chủ hãng kinh doanh nước ngoài cho tôi hay là họ phải phỏng vấn hàng trăm sinh viên Việt Nam, may ra mới chọn lấy một người có thể làm việc được. Đó là một thực tế lãng phí con người, lãng phí chất xám và thời gian không thể chấp nhận được!”. (2) Thiết nghĩ, phải nhớ bài học lịch sử cứu nước trước đây: cần huy động tổng lực dân tộc vào cuộc, cần một Diên Hồng giáo dục thực sự, chứ không
phải lối đánh trống bỏ dùi, bàn rồi để đấy. Diên Hồng này sẽ tập hợp những chuyên viên, nhà giáo (chú trọng những nhà giáo về hưu có tâm và có tầm), thức giả, phụ huynh, một số học sinh sinh viên thích đáng… thực sự quan tâm và có điều kiện đóng góp. Diên Hồng này sẽ cử ra một Ủy ban Diên Hồng giáo dục. Ủy ban này trực thuộc Thủ tướng; trước hết sẽ cử một nhóm tập hợp, chung đúc lại hàng ngàn ý kiến về giáo dục từ trước đến nay trên các cơ quan truyền thông và hữu trách, cả trong và ngoài nước. Chỉ riêng nội dung đúc kết này cũng đủ làm mấy luận văn tiến sĩ. Đó chính là tận dụng chất xám và tâm huyết của toàn dân tộc. Không chỉ thu gom, mà còn xử lý hệ thống lại, rút từ đó ra những luận điểm, kiến nghị thích đáng nhất – từ chiến lược căn cơ lâu dài, đến giải pháp cấp thời trước mắt. Sau đó, Ủy ban sẽ đúc kết thành văn bản, cho in và phát đến từng trường học, phường xóm, để lấy ý kiến toàn dân, rồi đưa Quốc hội duyệt, Chính phủ bắt tay tiến hành. Điều cần nhất: chiến lược-giải pháp tâm huyết ấy của toàn dân phải được thực thi nghiêm chỉnh, định rõ hạn kỳ kiểm tra, đánh giá, báo cáo lại trước Quốc hội và toàn dân… Xin nhắc lại: ta cần tiếp tục chống tham nhũng và các tệ nạn khác. Thế nhưng, giải pháp căn cơ, bài bản phải là giải pháp giáo dục. Chính vì giáo dục xuống cấp, không làm nổi sứ mệnh trồng người có bản lĩnh nhân văn và năng lực thực tiễn, nên đã cung cấp cả con mồi – nạn nhân lẫn thủ phạm đồng lõa cho mọi tệ nạn xã hội đủ dạng ngày nay – từ tham nhũng, hành dân, tàn phá môi sinh đến đua đòi ăn chơi “hít, lắc”, cá độ cả màu cờ sắc áo quốc gia… Giáo dục là quốc sách hàng đầu, sứ mệnh nền móng, cho hệ quả trăm năm, thế mà lại đang trong hiện trạng báo động đỏ! Hãy bắt tay vào làm, và phải làm đến nơi đến chốn! Nguyễn Viết Hùng (TP.HCM) (1) Chỉ xin dẫn một ví dụ, có thể thấy ở hầu hết các kỳ thi của ta hiện nay: Một trường ở Thanh Hóa thi tú tài đỗ 90%. Mấy ngày sau, cho cùng đề đó nhưng coi nghiêm túc như thi đại học, kết quả đạt chưa đầy 20% (Báo Tuổi Trẻ, ngày 5/11/2002). (2) GS Ngô Vĩnh Long, GS về Á Đông và Kinh tế phát triển của Đại học tổng hợp Maine ở Mỹ, GS thỉnh giảng ở ĐH Bách khoa Hà Nội. |
Nền giáo dục như thế nào thì tương lai của quốc gia sẽ như thế đó!
8 Tháng Mười Một, 2007
Nền giáo dục như thế nào thì tương lai của quốc gia sẽ như thế đó! Dân tộc nào cũng vậy, đều có những nét tính cách tốt và xấu. Thế nhưng, dường như đã khá lâu, chúng ta quá say sưa với những chiến thắng của mình, rồi chỉ biết khen và thích khen cái tốt. Còn những cái xấu thì ít được nhìn nhận nghiêm túc. Cái tâm lý ngại, né tránh nói đến những khiếm khuyết của dân tộc tính cũng đã làm cho chúng ta yếu đi. Một dân tộc lớn phải có khát vọng lớn, nghĩ lớn, làm lớn, dám chấp nhận thử thách. Nhưng cũng cần nói thêm rằng một dân tộc lớn cũng là một dân tộc dám và biết dũng cảm thừa nhận những sai lầm, yếu kém của mình. Tinh thần hợp tác kém Về tinh thần hợp tác của người Nhật và Việt Nam, từ lâu đã có một câu nói hình tượng như thế này: “Nếu đẩy 3 người Nhật Bản xuống một cái hố, họ sẽ tìm cách đưa nhau lên. Còn nếu đẩy 3 người Việt Nam xuống thì họ sẽ níu kéo nhau, không ai lên được”. Tinh thần hợp tác trong kinh doanh, làm ăn buôn bán và kể cả trong nghiên cứu khoa học của chúng ta đều như thế. Cái kiểu níu kéo nhau không muốn người khác hơn mình đang trở thành một lực cản không nhỏ trong công cuộc hội nhập với thế giới. Nuôi dưỡng ảo tưởng và dung dưỡng dối trá Cứ nhìn vào bất cứ một quốc gia nào giàu có, phát triển bạn sẽ thấy ở họ đều có một nền giáo dục tương xứng. Việt Nam ta, giáo dục cũng được coi là quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế như thế nào, ai cũng thấy. Nếu là người đang có con đi học, người đang trực tiếp giảng dạy quản lý hay đang tiếp tục học ở một bậc nào đó mới thấu hết những mặt trái của nó. Dạy học thụ động, sản phẩm giáo dục đào tạo ra không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đào tạo trong nước không được quốc tế công nhận, nhưng lại là nước có nhiều tiến sĩ giáo sư nhất trong khu vực. Rồi nạn báo cáo láo, hám hư vinh chạy theo thành tích ảo, nạn gian lận trong thi cử, nạn mua bằng bán điểm đang hoành hành… Điều đặc biệt nguy hiểm hiện nay là sự trung thực – một trong những phẩm chất quan trọng nhất – lại không được coi trọng đúng mức trong nhà trường. Chính cách làm giáo dục của chúng ta đang vô tình nuôi dưỡng ảo tưởng, khuyến khích và dung dưỡng sự dối trá. Thử hỏi một khuôn đúc giáo dục như thế thì tương lai của quốc gia sẽ ra sao? LÊ VƯƠNG KIỀU TRANG Thể diện dân tộc “Sometimes I see” (thỉnh thoảng tôi thấy), đó là câu nói của giáo viên người Mỹ dạy tiếng Anh của lớp tôi khi nói về hiện tượng một số cảnh sát giao thông ở nước ta nhận tiền của những người vi phạm luật giao thông. Tôi thật sự xấu hổ và chống chế lại: những người đó chỉ là một bộ phận nhỏ cán bộ công an không tốt. Nhưng dù sao nó vẫn là sự thật, một sự thật đã tồn tại từ lâu mà bất cứ người Việt Nam nào chỉ cần có chút ít lòng tự tôn dân tộc có lẽ không thể nào chịu nổi. Cách đây mấy ngày, lại có hiện tượng chèo kéo khách nước ngoài ở cảng Đà Nẵng và kết quả là vị khách nọ sợ quá phải chạy lại tàu không dám lên bờ nữa. Rồi vụ việc tham nhũng ở PMU 18 càng làm cho hình ảnh đất nước ta phần nào xấu đi trong mắt những người nước ngoài…
Ở đây, tôi muốn nói đến hình ảnh của nước ta trong mắt du khách và những người nước ngoài đến du lịch và công tác. Thời gian của họ ở lại không nhiều, vì vậy nếu chỉ cần một vài hành động không hay có thể làm cho họ có cái nhìn thiếu thiện cảm và ấn tượng ban đầu của họ về nước ta sẽ thật sự khó mà thay đổi được trong một thời gian ngắn. Thầy giáo của tôi sẽ nói với bạn bè như thế nào khi về nước nếu họ hỏi về Việt Nam? Vị khách kia có thể thoải mái được hay không trong chuyến hành trình của mình khi mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ? Những nước cho ta vay vốn có thể yên tâm được không khi mà họ không thấy được hiệu quả của đồng tiền mình bỏ ra?… Tôi không nói là nước ta xấu mà chỉ nói đến những hiện tượng thật sự không hay. Tuy nhiên, đã đến lúc cần xây dựng “thương hiệu” cho đất nước dù đã muộn, nhưng muộn không có nghĩa là không được và không kịp. Thể diện của dân tộc không thể để cho một bộ phận không lớn làm xấu đi được. Nước ta không thể nhỏ đi vì những thành phần đó được. Phải lớn lên, phải làm cho người nước ngoài thấy yên tâm và thích thú khi đến Việt Nam, làm cho người Việt Nam đi ra nước ngoài tự hào rằng tôi là người Việt Nam. Tiếng nói của nước ta phải có giá trị trên trường quốc tế nhiều hơn nữa. Không thể chỉ là hình thức thưởng phạt mà cần làm cho người dân hiểu được giá trị của việc mình làm ảnh hưởng thế nào đến đất nước. Hãy giáo dục ngay từ bây giờ cho những thế hệ trẻ để có ngay một thế hệ kế tục sự nghiệp đưa đất nước đi lên. Đó là cách làm cho Việt Nam không thể nào nhỏ đi mà chỉ có lớn lên trong lòng mỗi người dân, trong mắt bạn bè quốc tế. Hoàng Thanh Hưng |
Nước Việt Vĩ Đại
30 Tháng Mười Hai, 2006
Xin dành chuyên mục này để post lại lọai bài “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? (nguồn)” đã từng rất “nóng” trên báo Thanh Niên. Nhưng xin sửa lại chuyên mục thành “Việt Nam Vĩ Đại” vì một lý do khá đơn giản: chúng ta còn băn khoăn xem chúng ta nhỏ hay lớn thì đến lúc nào chúng ta mới “lớn” được ? Nước chúng ta đã từng mang tên “Đại Việt” kia mà. Tôi post lọat bài này tuy đã cũ và đã nhiều người đọc nhưng với một tinh thần mới: “nước Việt vĩ đại”. Đúng, phải tin là mình sẽ vĩ đại thì mới có thể vĩ đại được chứ
! Nếu nước Nhật xưa kia không dám tin là một ngày nào đó họ sẽ lớn mạnh như bây giờ thì chắc chắn một điều là họ đã không được như bây giờ.
Lê Việt Hồng
——————————————————————————————-
LTS: Chúng tôi xin lấy đầu đề bài báo trên đây của nhà sử học Dương Trung Quốc làm diễn đàn để bạn đọc tham gia phân tích, mổ xẻ tranh luận nhằm nhận chân giá trị của dân tộc và kiến nghị các giải pháp chấn hưng dân khí, góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển của đất nước. Bài tham gia diễn đàn xin gửi về tòa soạn Báo Thanh Niên 248 Cống Quỳnh, Q.1, TP.HCM (ngoài bìa ghi: Bài tham gia diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ” hoặc địa chỉ e-mail: thanhhang@thanhniennews.com) 1. Thứ bảy tuần trước, tôi và nhiều người khác được gặp và nghe ông cựu thủ tướng danh tiếng của CHLB Đức Gerhart Schroeder tâm sự. Ông nói rằng đây là lần thứ ba ông sang Việt Nam. Hai lần trước với tư cách là người đứng đầu chính phủ, ông thực hiện sứ mệnh ngoại giao. Giờ thì ông sang với tư cách cố vấn cho một tập đoàn công nghệ truyền thông của Thụy Sĩ đã có 15 năm hoạt động tại Việt Nam. Lần này ông đến vì “tình yêu đối với Việt Nam”. Ông cho biết tình yêu ấy nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của một chính khách và từ ký ức một thời trai trẻ khi chịu tác động của sự kiện Việt Nam, biểu trưng cho một lịch sử giải phóng hào hùng và một nền văn hóa đặc sắc. Tương tự như điều ông G.Schroeder nói, tôi cũng từng nghe một phó thị trưởng thành Venice (Italia) tự giới thiệu khi tiếp đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An: “Tôi thuộc thế hệ Việt Nam”. Cũng một lời tương tự như vậy từ một nhà lãnh đạo Quốc hội châu Âu tại Bruxelles (Bỉ)… và rất nhiều người khác, kể cả nhiều người Mỹ mà tôi đã gặp… 2. Hãy đọc lại Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi: “Xét như nước Đại Việt ta – Thật là một nước văn hiến – Bờ cõi sông núi đã chia – Phong tục Bắc Nam cũng khác – Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương – Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau – Mà hào kiệt đời nào cũng có”. Nhà bác học Lê Quý Đôn khi viết về dân tộc của mình luôn nói tới niềm tự hào “Nước Nam ta nổi tiếng là văn hiến…”, “văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc”. Ngô Thời Nhậm đi sứ phương Bắc, lúc trở về làm bài thơ Hoản nhĩ ngâm (Mỉm cười mà ngâm ngợi) thốt lên niềm tự hào “May mắn thay ! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam… chớ bảo rằng ta kém văn minh…”. Phan Thanh Giản đi sứ Tây kinh, tàu đến một cảng biển ngoại quốc, theo thông lệ phải giương quốc kỳ của sứ đoàn, Phan bèn lấy tấm lụa rồi dùng son mà viết 2 chữ lớn là “Đại Nam” treo lên mũi tàu mà biểu trưng niềm tự hào dân tộc nơi đất khách quê người… Những chuyện như thế trong sử sách nhiều lắm. Không có niềm tự hào ấy chúng ta không tồn tại được, và chính sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào đó. 3. Ngót trăm năm đô hộ của thực dân Pháp là một nỗi nhục lớn của dân tộc Việt Nam sau hơn một thiên niên kỷ tự chủ, hơn mười lần đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Đến thế kỷ XIX, chỉ vài trăm tên lính đánh thuê đã hạ nổi thành Hà Nội có những người anh hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu cầm quân rồi phải tự vẫn cho khỏi thẹn với núi sông. Những bài học trên ghế học trò “Tổ tiên ta là người Gô-loa” mà thực dân nhồi sọ. Thảm cảnh của những người cu li Việt phải tha phương cầu thực ở những đồn điền hải ngoại và của những trai tráng người Việt sang làm bia đỡ đạn bên trời Âu trong hai cuộc đại chiến cũng như sự khốn cùng của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến… đã dồn nén lòng tự ái dân tộc thành một sức mạnh phi thường khi có được ngọn cờ tụ nghĩa. Từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học… đến Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều thấm cái nỗi nhục mất nước để tạo nên sức vùng dậy của cả một dân tộc giành quyền làm chủ của mình. Dân tộc ấy đã công khai tuyên bố quyền tự chủ của mình trên những nguyên lý phổ quát của nhân loại. Và dân tộc ấy đã tự chứng minh sức mạnh của mình bằng ba cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn 4 thập kỷ với biết bao nhiêu xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. 4. Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn mà có người còn sánh với những chiến công của lịch sử giữ nước, mà cuối cùng chúng ta vẫn không tránh được nguy cơ tụt hậu? Ai cũng biết giữ được mức tăng GDP thuộc loại nhất nhì khu vực, đặc biệt là giữ được sự ổn định về an ninh là một cố gắng rất lớn. Nhưng mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa vời. Phải tìm cho ra những lý do của sự tụt hậu mới mong thoát được nguy cơ tụt hậu. Đương nhiên, chiến tranh luôn được viện dẫn làm lý do hàng đầu. Chiến tranh tàn phá của cải vật chất để lại những hậu quả rất nặng nề. Chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất mát, kể cả những di chứng lâu dài cho con người… Những lý do ấy đều thấy được, cân đong đo đếm được và trên thực tế ta đã có nhiều thập kỷ khắc phục. Nhưng còn có một lý do mà không phải là khó thấy. Đó chính là nếp nghĩ và hành xử. Vì sao đứng trước hiện tượng hàng vạn người phụ nữ phải rời quê hương đi làm dâu xứ người trong một hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo và cả nạn bạo hành trong gia đình mà không ai nghĩ đến một giải pháp để ngăn chặn ngoài nỗi bức xúc được phản ánh trên báo chí và liệu những người có trách nhiệm với đất nước có ai cảm thấy đó là nỗi nhục để tìm cách chấm dứt. Mời được càng đông người nước ngoài đầu tư vào nước ta, vay được càng nhiều tiền của thiên hạ được coi là thước đo của sự tín nhiệm của thế giới đối với Việt Nam. Nó mang lại những nguồn lực cần thiết nhưng mấy ai quan tâm đến tỷ trọng lợi nhuận rơi vào túi ai mà vẫn được tính vào một phần thành tựu GDP của đất nước và ai sẽ phải gánh vác để trang trải những món nợ đáo hạn? Và những cuộc đình công, bãi công của thợ thuyền giờ đây có còn làm nên một phần của truyền thống giai cấp hay không? Những vụ bê bối, tham nhũng bạc triệu đô la gây nên sự ồn ào trên dư luận và sự bận bịu của các cơ quan điều tra và xét xử mà chưa làm nên sự xúc động đến mức chẳng có một ai từ chức vì sự xấu hổ về trách nhiệm của mình, v.v và v.v… Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên được trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu. Lại nhớ đến điều mà vị Đại tướng góp phần đánh thắng hai đế quốc to nhắc nhở: Có một thế hệ hàng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chí rửa sạch nỗi nhục mất nước. Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng với dự báo thời tiết chúng ta công bố thứ hạng về trình độ phát triển cùng những món tiền nợ nước ngoài để thấm được cái nỗi nhục tụt hậu, chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình… 5. Tôi đã gặp hai con người, hai nhà doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa. Một người đặt cho cái không gian tâm linh của một khu công viên văn hóa rất rộng lớn ở Bình Dương là “Đại Nam quốc tự”. Còn một người là chủ một hãng bia mang tên “Đại Việt”, cơ sở nộp ngân sách lớn nhất của tỉnh Thái Bình. Hỏi vì sao lại đặt tên như vậy, cả hai đều nhắc đến tâm thế của người xưa về niềm tự hào dân tộc, rằng chính vì niềm tự hào ấy mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ chúng ta cả một cơ đồ, một giang sơn gấm vóc. Cả hai đều chất vấn tôi bằng một câu hỏi: “Vậy thì Việt Nam có phải là một nước nhỏ hay không?”. Và cả hai đều cho rằng nếu tâm thế của ta nhỏ thì đáng là nước ta nhỏ, nếu chỉ bó mình trong những ước vọng chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như tâm thế ta lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử. Viết bài báo này, tôi cũng muốn bạn đọc cùng chia sẻ với cái câu hỏi sâu sắc: “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?”. Dương Trung Quốc (Tháng 3.2006) |
Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?
29 Tháng Mười Hai, 2006
Để có thể mạnh dạn nói rằng nước Việt Nam không nhỏ
Thật tình cờ, sáng nay vừa đọc Báo Tuổi Trẻ với bài viết 197 năm Việt Nam mới đuổi kịp Singapore chưa hết bức xúc, đọc tiếp bài Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? của nhà sử học Dương Trung Quốc trên Thanh Niên, tôi thấy vô cùng nôn nóng phải bày tỏ những nỗi niềm.Trước hết phải khẳng định bài viết của Báo Tuổi Trẻ thật sự gây sốc với rất nhiều độc giả, vì đã nêu một con số quá sức tưởng tượng của người Việt Nam ta: gần 2 thế kỷ nữa Việt Nam mới đuổi kịp nước bạn, trong trường hợp nước này đứng yên, không phát triển gì cả. Tôi chỉ nêu một ý nhỏ mà tôi đã chứng kiến tận mắt là trong thực tế nước Singapore chẳng có gì là ghê gớm cả. Năm 2005, tôi đã qua đất nước này, tôi thấy đời sống của người dân ở đây cũng không hơn gì mấy người dân TP.HCM ở giới trung lưu, những tiện nghi cũng rất bình thường trong các ngôi nhà người Singapore… Điều này tôi sẽ nói nhiều hơn với Báo Tuổi Trẻ.Năm nội dung bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc đã nêu càng đọc càng thấm thía nỗi lòng của tác giả cũng là nỗi lòng biết bao thế hệ người VN biết trăn trở, âu lo vì đất nước, dân tộc. So với các nước có diện tích lớn như Nga, Canada, Mỹ, Trung Quốc,… thì nước ta quá nhỏ với diện tích khiêm tốn, nhưng dân số VN cũng có hạng với trên 80 triệu người, quả là không nhỏ tí nào, nhưng tại sao hai tiếng Việt Nam chưa được thế giới trân trọng đón chào ? Phải chăng chính vì từ những chủ quan tự mãn sau ngày giải phóng miền Nam, hay những biểu hiện mặc cảm tự ti khi ra trước thế giới như hiện nay ? Nói như nhà thơ Thanh Thảo – thái độ nào cũng đem lại tai hại cho đất nước.Không thể mang mặc cảm tự ti của nước nghèo khi đi đàm phán với thế giới để đòi hỏi sự công bằng trong thương mại. Dân tộc Việt Nam có quá khứ oai hùng, nhưng không thể dựa vào vầng hào quang này để sử dụng trong quan hệ ngoại giao, quốc tế mà cần phải có một nền kinh tế vững mạnh, một đồng tiền có giá trị lớn để giao lưu. Tôi đã đi nhiều nước châu Á, châu Mỹ,… đến nơi nào tôi cũng chú ý tìm hiểu sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam. Ở các siêu thị nước ngoài, nếu có các mặt hàng Việt Nam thì thường ở một vị trí rất khiêm tốn, lẻ loi, ít được biết đến trông rất tội nghiệp như hàng thủ công mỹ nghệ, hải sản. Còn đồng tiền Việt Nam (VNĐ), tôi chưa thấy có vị trí nào trên các bảng điện tử của ngân hàng, khách sạn từ Bắc Kinh, Hồng Kông cho đến New York, Toronto… Điều này nói lên vị trí yếu kém của đồng tiền Việt Nam ta trên hệ thống tiền tệ quốc tế, đó là điều mỗi người Việt Nam khi ra nước ngoài đều thấy đau lòng, nhức nhối.Qua diễn đàn của báo với sự gợi ý của nhà sử học Dương Trung Quốc, với góc độ một độc giả, một cán bộ nhà nước hưu trí, tôi gửi đến những ý kiến thô thiển từ một nỗi niềm sâu lắng, đồng cảm cùng tác giả và quý báo, rất mong được thấy một ngày mai tươi sáng cho nền kinh tế nước nhà với một đồng tiền có giá trị, có vị trí vững mạnh trên hệ thống tiền tệ thế giới để con cháu chúng ta không còn phải mang mặc cảm tự ti mỗi khi xuất hiện trước diễn đàn quốc tế, như vậy mới thoát khỏi vị trí nghèo nàn, lạc hậu, để có thể mạnh dạn nói rằng nước Việt Nam không nhỏ trên bản đồ địa lý cũng như kinh tế trên thế giới.Nam Cường (Cuongnam47@yahoo.com.vn)
Nhìn cuộc đời dưới con mắt bi quan một cách tự tạo
Tôi đã đọc cả hai bài viết về tình trạng của đất nước và con người Việt Nam ở hiện tại: bài Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ? và bài Lòng tự trọng dân tộc. Theo tôi, đây là hai bài báo hay nhất khi đề cập về hiện trạng của con người Việt Nam trong một thời kỳ mới, mà đi đến đâu bạn cũng có thể nghe những câu phát biểu hùng hồn đại loại như “Thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam” hoặc nghe một số người dân kể về cuộc sống của bản thân họ một cách chán đời.Rõ ràng đó là sự trái ngược nhau trong cách nói, còn về cách nghĩ thì có thể tất cả họ đều tự vẽ lên cho mình mà thôi. Một người thì trên cao, chỉ biết phát biểu. Còn một người ở dưới thấp thì chỉ biết sống theo kiểu hằng ngày đi làm tàn tàn rồi ăn uống nhậu nhẹt mà chẳng màng quan tâm gì đến đất nước ngày hôm nay ra sao và rồi khi say thì ngồi than với nhau “đời là bể khổ“, hay chán nản công việc, lương thấp mà không biết tự thân vận động đi tìm cho mình những cơ hội mới. Nhiều người Việt Nam hôm nay luôn nhìn cuộc đời dưới con mắt bi quan một cách tự tạo như vậy đó.
Tôi xin nói, Việt Nam sẽ không bao giờ nhỏ nếu người Việt Nam không tự xem mình là nhỏ. Rất cám ơn Báo Thanh Niên vì đã có 2 bài báo rất ý nghĩa và hữu ích. Rất mong báo luôn có được những bài báo hay như thế này để góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Nhat Thanh (nobody2jd@yahoo.com)
Hãy hướng về một nước Việt vĩ đại
Nước Việt ta từng là nước hùng mạnh qua những gì lịch sử còn lưu lại. Ngày nay, có người Việt yêu nước nào mà không xót xa và tủi hổ khi nghe một chuyên gia nước ngoài đánh giá rằng: “Việt Nam sau hơn 40 năm phát triển nữa mới có thể sánh bằng Thái Lan”. Dù rằng ta và Thái Lan có cùng xuất phát điểm, thậm chí, công bằng mà nói Thái Lan có điểm xuất phát sau chúng ta rất nhiều. Thế còn Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản thì sao, thêm bao nhiêu năm nữa?Lịch sử sẽ mãi là lịch sử nếu hiện tại vẫn là hiện tại. Chúng ta đã và đang làm gì, đang nghĩ gì cho nước Việt hùng cường? Một điều mà chắc chắn rằng: Mỗi người Việt đều biết được phải làm gì, nghĩ gì, nhưng suy cho cùng thì chỉ là biết, là cảm mà chưa dám dấn thân. Và hơn thế nữa, chúng ta đang bỏ quên thứ mà dân Nhật, dân Hàn, dân Sing… đã xây được: Đó chính là “dân khí và khát vọng”.Nước Việt nhỏ hay không nhỏ chính do tầm nhìn gần hay xa mà thôi. Tất cả chúng ta hãy cùng thổi lên ngọn lửa khát vọng trong trái tim những người con Việt cùng hướng về một nước Việt vĩ đại. Lê Đình Hải Sơn (điện thoại: 0903.353.279)



